Successfully reported this slideshow.
We use your LinkedIn profile and activity data to personalize ads and to show you more relevant ads. You can change your ad preferences anytime.
Upcoming SlideShare
Xq hoi chung mang phoi
Xq hoi chung mang phoi
Loading in …3
×
1 of 134

Hnt ky yeu-a4

9

Share

Download to read offline

Related Books

Free with a 30 day trial from Scribd

See all

Related Audiobooks

Free with a 30 day trial from Scribd

See all

Hnt ky yeu-a4

  1. 1. 1
  2. 2. 2
  3. 3. 3
  4. 4. 4 thư ngỏ Kính Thưa Quý Giáo Sư, Bác sĩ; Kính Thưa Quý Đại Biểu. Hội Nội tiết và Đái tháo đường Việt Nam rất hân hạnh chào mừng Quý Thầy Cô, Quý vị đại biểu đến tham dự Hội nghị Khoa học Nội tiết và Chuyển hóa lần thứ VII được tổ chức tại Hà Nội. Hội nghị chuyên ngành về Nội tiết và Chuyển hóa của Hội Nội tiết và Đái tháo đường Việt Nam được tổ chức hai năm một lần là nơi quy tụ các chuyên gia về Nội tiết Chuyển hóa trong nước và quốc tế. Số lượng lớn các đại biểu tham gia, báo cáo viên, bài báo cáo tham dự có chất lượng cao cùng sự phong phú đa dạng của các đề tài đánh dấu sự phát triển ngày càng lớn mạnh của Hội Nội tiết và Đái tháo đường Việt Nam. Mục tiêu chính của Hội nghị là đánh giá lại các hoạt động nghiên cứu khoa học, công tác điều trị chuyên khoa trong nước và xác định những nhiệm vụ của chuyên ngành trong giai đoạn tới đồng thời động viên các nhà khoa học nỗ lực hơn nữa vì sự nghiệp dự phòng, chăm sóc, điều trị và theo dõi những bệnh nhân thuộc chuyên ngành Nội tiết, Đái tháo đường và bệnh lý Chuyển hoá trên toàn đất nước Việt Nam. Ngoài Hội nghị chung toàn quốc, các Hội địa phương tại ba miền Bắc - Trung - Nam đều sinh hoạt khoa học định kỳ mỗi 3-6 tháng mỗi năm hoặc 2 năm một lần. Điều đó chứng tỏ hoạt động khoa học liên tục của các bác sĩ chuyên ngành Nội tiết – Chuyển hóa - Đái tháo đường trên toàn quốc ngày càng lớn mạnh. Một số các thành viên của Hội nằm trong ban soạn thảo “Cẩm nang hướng dẫn điều trị các bệnh Nội tiết và Chuyển hóa” của Bộ Y Tế. Hội cũng đã xuất bản được “Hướng dẫn điều trị bệnh Đái tháo đường typ 2”, Tạp chí Nội tiết và Chuyển hóa xuất bản 3 tháng /số. Hội nghị lần thứ VII tổng kết 5 năm hoạt động của Ban chấp hành Hội Nội tiết và Đái tháo đường Việt Nam nhiệm kỳ 2009-2014. Trong 5 năm vừa qua, ngoài những hoạt động đánh giá sự lớn mạnh của Hội về chuyên môn và nhân lực tại Việt Nam, Hội đã từng bước hội nhập về phương diện khoa học với các Hội Nội tiết Chuyển hóa trong khu vực và trên thế giới. Hiện nay, Hội Nội tiết và Đái tháo đường Việt Nam là thành viên của Hội Nội tiết các nước thuộc khối ASEAN, Hội Nội tiết Quốc Tế (ISE), Liên Đoàn Đái Tháo Đường Quốc Tế (IDF). Trong nhiệm kỳ vừa qua, Hội đã tổ chức thành công Hội nghị Nội tiết các nước khối ASEAN – AFES 2011, đây là hội nghị quy tụ hơn 1400 đại biểu trong và ngoài nước tham dự và được đánh giá là một trong các Hội Nghị AFES có nội dung khoa học phong phú và chất lượng nhất. Các báo cáo viên Việt Nam cũng được mời tham dự báo cáo và làm giám khảo tại các Hội nghị Quốc tế trong khu vực. Một số chuyên gia Nội tiết Việt Nam đã có Abstract được chấp nhận và công bố tại các Hội nghị Nội tiết ở Bắc Mỹ và Châu Âu, một số có công trình khoa học được đăng tải trên các báo Nội tiết Chuyển hóa Quốc tế như JAFES, Diabetes Research and Clinical Practice, Lancet. Được sự chấp thuận của Bộ Y tế, Hội cũng phối hợp cùng Hội Đái tháo đường Mỹ và Trung tâm nghiên cứu Đái tháo đường Steno, Đan Mạch tổ chức các lớp cập nhật kiến thức về Đái tháo đường tại Việt Nam dành cho các bác sĩ chuyên khoa và đa khoa. Thay mặt ban chấp hành Hội Nội tiết và Đái tháo đường Việt Nam, Tôi xin biểu dương và cảm tạ những hoạt động khoa học của các đồng nghiệp chuyên ngành trên mọi miền đất nước. Sự đoàn kết của các thành viên trong Hội, những hoạt động khoa học không ngừng nghỉ là yếu tố chính góp phần cho sự phát triển lớn mạnh của Hội và sự thành công của Hội nghị lần thứ VII này. Kính chúc Quý đại biểu sức khỏe, thu thập được nhiều thông tin cập nhật trong hội nghị. Chúc cho Hội Nội tiết và Đái tháo đường Việt Nam luôn duy trì được tình đoàn kết và niềm say mê khoa học. PGS. TS. Nguyễn Thy Khuê Chủ tịch Hội Nội tiết và Đái tháo đường Việt Nam, nhiệm kỳ 2009-2014
  5. 5. 5 NOVO NORDISK PHARMA OPERATIONS A/S SANO AVENTIS BOERHINGER INGELHEIM SERVIER ASTRA ZENECA ABBOTT (DƯỢC) PFIZER CÁC ĐƠN VỊ TÀI TRỢ CHÍNH TÀI TRỢ BẠCH KIM TÀI TRỢ VÀNG TÀI TRỢ BẠC ĐỒNG TÀI TRỢ Hội Nội tiết & Đái tháo đường Việt Nam xin trân trọng cảm ơn Quý Công ty và Tổ chức đã tham gia tài trợ cho Hội nghị Khoa học về Nội tiết và Chuyển hóa toàn quốc lần thứ VII MSD MERCK SERONO MEGA LILLY
  6. 6. 6 CÁC ĐƠN VỊ THAM GIA GIAN HÀNG Hội Nội tiết & Đái tháo đường Việt Nam xin trân trọng cảm ơn Quý Công ty và Tổ chức đã tham gia Hội nghị Khoa học về Nội tiết và Chuyển hóa toàn quốc lần thứ VII VPDD WOERWANG PHARMA HQ PHARMA DKSH OMRON HNNOVARTISVIỆT THÁI B BRAUNDƯỢC HẬU GIANGJOHNSON & JOHNSON CTY TNHH BAYER VIỆT NAM TẠI TP.HCM HOÀNG ĐỨC - MÁY ĐO ĐƯỜNG HUYẾT BECTON DICKINSON (BD) UNITED PHARMA
  7. 7. 7 BAN TỔ CHỨC : GS.TS. Thái Hồng Quang (Trưởng ban tổ chức) PGS.TS. Nguyễn Thy Khuê PGS.TS. Đỗ Trung Quân (Phó trưởng ban) PGS.TS. Hoàng Trung Vinh PGS.TS. Nguyễn Khoa Diệu Vân TS.BS. Nguyễn Vinh Quang TS.BS. Phạm Thị Hồng Hoa ThS.BS. Vũ Chí Dũng ThS.BS. Nguyễn Quang Bảy Ths.BS. Lâm Văn Hoàng Thường trực ban tổ chức: GS.TS. Thái Hồng Quang PGS.TS. Đỗ Trung Quân TS.BS. Nguyễn Vinh Quang PGS.TS. Nguyễn Khoa Diệu Vân ThS.BS. Vũ Chí Dũng ThS.BS. Nguyễn Quang Bảy ThS.BS. Lâm Văn Hoang BAN THƯ KÝ: ThS.BS. Nguyễn Quang Bảy (Trưởng ban) TS.BS. Hồ Kim Thanh ThS. Chu Thúy Ngà (CTHV) ThS.BS. Lâm văn Hoàng ThS.BS. Trịnh Ngọc Anh TS.BS. Bùi Phương Thảo (VN) HỘI ĐỒNG KHOA HỌC: PGS.TS. Nguyễn Thy Khuê (Chủ tịch Hội, Chủ tịch Hội đồng) GS.TS. Thái Hồng Quang (Phó chủ tịch) Các ủy viên: GS.TS. Nguyễn Hải Thủy GS.TS. Trần Hữu Dàng PGS.TS. Đỗ Trung Quân PGS.TS. Hoàng Trung Vinh PGS.TS. Nguyễn Thị Hoàn PGS.TS. Nguyễn Khoa Diệu Vân PGS.TS. Nguyễn Kim Lương PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Đào PGS.TS. Nguyễn Văn Quýnh PGS.TS. Tạ Văn Bình TS.BS. Nguyễn Vinh Quang TS.BS. Phạm Thị Hồng Hoa ThS .BS Nguyễn Quang Bảy BAN TỔ CHỨC ĐẠI HỘI NỘI TIẾT - Đái tháo đường TOÀN QUỐC 2014
  8. 8. 8 Thường trực Hội đồng khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thy Khuê GS.TS. Thái Hồng Quang (Trưởng ban) GS.TS. Nguyễn Hải Thủy GS.TS. Trần Hữu Dàng PGS.TS. Đỗ Trung Quân PGS.TS. Hoàng Trung Vinh Thư ký Hội đồng khoa học: TS.BS. Nguyễn Quang Nam TS.BS. Nguyễn Vinh Quang ThS.BS. Nguyễn Quang Bảy BAN VẬN ĐỘNG TÀI TRỢ CHO ĐẠI HỘI : PGS.TS. Nguyễn Thy Khuê GS.TS. Thái hồng Quang GS.TS. Nguyễn Hải Thủy GS.TS. Trần Hữu Dàng PGS.TS. Đỗ Trung Quân PGS.TS. Nguyễn Khoa Diệu Vân ThS.BS. Đỗ Kim Thành (BVNTTW) BAN KINH TẾ : PGS.TS. Nguyễn Khoa Diệu Vân (Trưởng ban) PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Đào TS.BS. Phạm Thị Hồng Hoa PGS.TS. Nguyễn Thị Hoàn TS.BS. Hồ Thị Kim Thanh TS.BS. Nguyễn Vinh Quang ThS.BS. Đỗ Kim Thành (BVNTTW) BAN HẬU CẦN: PGS.TS. Nguyễn Thị Nga (Trưởng ban) PGS.TS. Nguyễn Thị Hoàn TS.BS. Phạm Thị Hồng Hoa TS.BS. Đỗ Minh Thìn ThS.BS. Quách Hữu Trung (198) TS.BS. Nguyễn Thị Nga (103) BS. Vũ Mai Hương (BVTN) BS. Phạm Tuấn Dương (198) TS.BS. Nguyễn Thị Kim Hóa (BVNTTW) BAN TỔ CHỨC ĐẠI HÔI NỘI TIẾT - Đái tháo đường TOÀN QUỐC 2014
  9. 9. 9 BAN ĐỐI NGOẠI: PGS.TS. Nguyễn Thy Khuê (Trưởng ban) PGS.TS. Đỗ Trung Quân (đồngTrưởng ban) GS.TS. Thái Hồng Quang GS.TS. Trần Hữu Dàng TS.BS. Nguyễn Vinh Quang PGS.TS. Nguyễn Văn Quýnh PGS.TS. Nguyễn Thị Hoàn TS.BS. Nguyễn Phương Thảo (Viện nhi TƯ) TS.BS. Nguyễn Quốc Khánh (Thư ký) BAN BIÊN DỊCH: PGS.TS. Đỗ Trung Quân (Trưởng ban) PGS.TS. Nguyễn Thy Khuê (đồng Trưởng ban) ThS.BS. Trịnh Ngọc Anh (NTBM) ThS.BS. Lê Quang Toàn (BVNTTW) ThS.BS. Vũ Chí Dũng (VNTW) TS.BS. Trần Quang Nam TS.BS. Trần Quốc Khánh ThS.BS. Thu Hà (NTBM) ThS.BS. Nguyễn Đình Tùng (VĐTĐ) ThS.BS. Anh (NTTW) BAN TUYÊN TRUYỀN : TS.BS. Nguyễn Vinh Quang (Trưởng ban) PGS.TS. Nguyễn Thị Hoàn ThS.BS. Nguyễn Quang Bảy TS.BS. Nguyễn Quốc Khánh TS.BS. Trần Quang Nam ban biên tập : GS.TS. Thái Hồng Quang (Trưởng ban) ThS.BS. Nguyễn Quang Bảy TS.BS. Trần Quang Nam TS.BS. Trần Quốc Khánh BAN TỔ CHỨC ĐẠI HÔI NỘI TIẾT - Đái tháo đường TOÀN QUỐC 2014
  10. 10. 10
  11. 11. 11
  12. 12. 12
  13. 13. 13
  14. 14. 14
  15. 15. 15
  16. 16. 16
  17. 17. 17
  18. 18. 18 1. GS. TS. 2. GS. TS. 3. GS. TS. 4. GS. TS. 5. PGS. TS. 6. TS. BS. 7. GS.TS 8. GS.TS. 9. GS.TS. 10. GS.TS. 11. GS.TS. 12. GS.TS. 13. GS.TS. 14. GS.TS. 15. PGS.TS. 16. PGS.TS. 17. PGS.TS. 18. PGS.TS. 19. PGS.TS. 20. PGS.TS. 21. PGS.TS. 22. PGS.TS. 23. PGS.TS. 24. PGS.TS. 25. PGS.TS. 26. PGS.TS. 27. PGS.TS. 28. PGS.TS. 29. PGS.TS. 30. PGS.TS. 31. PGS.TS. 32. PGS.TS. 33. PGS.TS. 34. PGS.TS. 35. TS.BS 36. TS.BS. 37. TS.BS. 38. TS.BS. 39. TS.BS. 40. TS.BS. 41. TS.BS. 42. TS.BS. 43. TS.BS. 44. ThS.BS. 45. ThS.BS. chủ tọa đoàn Malcolm Nattrass Jean Claude Mbanya Chaicharn Deerochanawong Lee Kok Onn Maria Craig JJ Mukherjee Trần Đức Thọ Mai Thế Trạch Nguyễn Thu Nhạn Phạm Gia Khải Thái Hồng Quang Nguyễn Hải Thủy Trần Hữu Dàng Trần Quán Anh Nguyễn Khoa Diệu Vân Đỗ Trung Quân Nguyễn Thị Bích Đào Nguyễn Thy Khuê Đỗ Thị Tính Nguyễn Kim Lương Nguyễn Phú Đạt Nguyễn Thị Hoàn Nguyễn Thị Ngọc Lan Nguyễn Văn Quýnh Phạm Đăng Mịch Đinh Thu Hương Hoàng Trung Vinh Lê Anh Thư Nguyễn Đức Tiến Nguyễn Quang Tuấn Nguyễn Thị Nhạn Trần Ngọc Lương Trần Văn Huy Vũ Bích Nga Trần Quang Nam Lê Tuyết Hoa Phạm Thị Hồng Hoa Phan Huy Anh Vũ Nguyễn Thế Thành Nguyễn Vinh Quang Bùi Phương Thảo Trần Quang Khánh Vũ Thị Thanh Huyền Vũ Chí Dũng Diệp Thanh Bình
  19. 19. 19 1. Dr. 2. PGS.TS. 3. TS.BS 4. TS.BS. 5. TS.BS. 6. TS.BS. 7. TS.BS. 8. TS.BS. 9. TS.BS. 10. TS.BS. 11. TS.BS. 12. ThS.BS 13. ThS.BS. 14. ThS.BS. 15. ThS.BS. 16. ThS.BS. 17. ThS.BS. 18. ThS.BS. 19. ThS.BS. 20. ThS.BS. 21. ThS.BS. 22. ThS.BS. 23. ThS.BS. 24. ThS.BS. 25. ThS.BS. 26. ThS.BS. 27. ThS.BS. BÁO CÁO VIÊN 28. ThS.BS. 29. ThS.BS. 30. ThS.BS. 31. ThS.BS. 32. ThS.BS. 33. ThS.BS. 34. ThS.BS. 35. ThS.BS. 36. ThS.BS. 37. ThS.BS. 38. BS.CKII. 39. BS.CKII. 40. BS.CKII. 41. BS. 42. BS. 43. BS. 44. BS. 45. BS. 46. BS. 47. BS. 48. BS. 49. BS. 50. BS. 51. BS. 52. BS. 53. BS. 54. BS. Bee Yong Mong Nguyễn Tấn Cường Trần Thị Thanh Hóa Chu Lý Hải Vân Hoàng Ái Kiên Hồ Huỳnh Quang Trí Nguyễn Anh Quân Nguyễn Ngọc Quang Nguyễn Thị Nhất Châu Nguyễn Thị Thu Thảo Nguyễn Xuân Cảnh Trần Thị Hoa Vi Cấn Thị Bích Ngọc Huỳnh Hữu Năm Hứa Thành Nhân Lê Thị Phương Huệ Ngô Dũng Ngô Minh Đạo Nguyễn Văn Vy Hậu Trần Minh Triết Lâm Thị Mỹ Hạnh  Đỗ Đình Tùng Lại Thị Phương Quỳnh Lâm Văn Hoàng Lê Bá Ngọc Lê Quang Toàn Ngô Đức Kỳ Nguyễn Ngọc Cương Nguyễn Phương Khanh Nguyễn Quốc Việt Nguyễn Thị Thu Nga Nguyễn Trần Kiên Phan Hoàng Hiệp Phan Hữu Hên Quách Hữu Trung Thái Thị Thanh Thúy Vũ Chi Mai Trần Thanh Sang Đỗ Thị Mỹ Hạnh Nguyễn Thị Ngọc Thư Đào Thành Xuyên Đặng Ánh Dương Nguyễn Đình Dương Nguyễn Ngọc Khánh Nguyễn Thị Thư Hương Phạm Thị Ánh Huy Trần Thị Thu Hương Trịnh Hoài Nam Nguyễn Thị Diễm Chi Nguyễn Thị Thu Mai Nguyễn Trần Ngọc Hiếu Nguyễn Văn Hoàn Phạm Thu Hà Trần Thị Bích Huyền
  20. 20. 20 TÓM TẮT CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SỬ DỤNG hbA1C TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG PGS. TS. Nguyễn Thy Khuê ĐHYDTPHCM TÓM TẮT Tiềm năng sử dụng HbA1c trong việc chăm sóc bệnh nhân đái tháo đường lần đầu được đề cập đến vào năm 1985 trong một báo cáo của Tổ chức Sức khỏe Thế giới. Năm 2005, Tổ chức Sức khỏe Thế giới phối hợp cùng Liên đoàn Đái tháo đường Thế giới triệu tập một Ủy ban tham vấn để xem xét lại và cập nhật các tiêu chí chẩn đoán đái tháo đường. Sau khi cân nhắc các dữ kiện thông tin và bằng chứng sẵn có vào thời điểm trên, Ủy ban các chuyên gia thống nhất chưa nên chấp thuận sử dụng HbA1c như một tiêu chí chẩn đoán đái tháo đường do tính chuẩn xác trong kỹ thuật xét nghiệm còn chưa được chuẩn hóa. Vào tháng 03 năm 2009, Tổ chưc Sức khỏe Thế giới tham khảo ‎ kiến của Ủy ban các chuyên gia để cập nhật các báo cáo năm 1999 và 2005 và đặt lại vai trò của HbA1c trong chẩn đoán bệnh đái tháo đường dựa trên các bằng chứng sẵn có. VAI TRÒ HbA1C TRONG CHẨN ĐOÁN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG: - Năm 1970, lần đầu tiên người ta ghi nhận hemoglobin glycat hóa (gọi tắt là HbA1c) như một hemo- globin “bất thuờng” trên bệnh nhân đái tháo đường. Sau khi được phát hiện, có nhiều nghiên cứu nhỏ chứng minh có sự liên quan giữa nồng độ HbA1c và nồng độ glucose máu. Điều này gợi ‎ có thể sử dụng HbA1c như một thong số để đánh giá tình trạng kiểm soát đường huyết của bệnh nhân đái tháo đường. Nghiên cứu ADAG (A1c-Derived Average Glucose) trên 643 bệnh nhân đái tháo đường đã công nhận mối tương quan giữa HbA1c và mức đường huyết trung bình trên nhiều đối tượng bệnh nhân đái tháo đường thuộc các t‎ýp khác nhau. HbA1c bắt đầu được đưa vào thực tế lâm sàng từ thập niên 1980 và ngày nay đã trở thành một tiêu chí tối quan trọng trong quản lý bệnh nhân đái tháo đường. - Nồng độ HbA1c phản ảnh mức dao động đường huyết trung bình trong vòng 8-12 tuần trước. Có thể thực hiện xét nghiệm vào bất cứ thời điểm nào trong ngày và không cần nhịn đói. Sự thuận tiện này khiến cho HbA1c trở thành một xét nghiệm được ưa chuộng để đánh giá sự kiểm soát đường huyết của bệnh nhân đái tháo đường. Gần đây, HbA1c thu hút được nhiều sự quan tâm của giới chuyên môn như một công cụ để chẩn đoán và xa hơn nữa là công cụ để tầm soát đái tháo đường trong nhóm đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh đái tháo đường. - Do những bất tiện trong việc xét nghiệm đường huyết đói (bệnh nhân phải nhịn đói ít nhất 8 giờ qua đêm) cũng như sự phức tạp trong việc tiến hành nghiệm pháp dung nạp glucose nên từ lâu người ta đã cố gắng tìm một xét nghiệm khác để chẩn đoán đái tháo đường. Năm 2009, HbA1c đã được Ủy ban các chuyên gia và Hiệp hội Đái tháo đường Hoa kỳ khuyến cáo sử dụng như một tiêu chí để chẩn đoán đái tháo đường. Mặc dù độ nhậy và độ chuyên của xét nghiệm HbA1c là tương đương với xét nghiệm đường huyết đói và đường huyết 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp glucose như một yếu tố tiên đoán dương bệnh lý‎ võng mạc, không phải xét nghiệm này được phổ biến một cách rộng rãi ở mọi nơi trên thế giới. Hơn nữa có một số bệnh nhân sẽ được chẩn đoán đái tháo đường bằng tiêu chí HbA1c nhưng các xét nghiệm đường huyết lại bình thường và ngược lại một số bệnh nhân sẽ được chẩn đoán đái tháo đường bằng các tiêu chí đường huyết nhưng nồng độ HbA1c lại trong giới hạn bình thường. - Sử dụng HbA1c sẽ giúp tránh được sự dao động của xét nghiệm đường huyết và quan trọng nhất là người được xét nghiệm sẽ không phải nhịn đói hoặc phải chuẩn bị đầy đủ những điều kiện nghiêm ngặt như khi phải tiến hành nghiệm pháp dung nạp glucose để chẩn đoán đái tháo đường. Tuy vậy, nồng độ HbA1c lại chịu tác động của một số yếu tố như di truyền, huyết học và các yếu tố liên quan với bệnh lý đi kèm. Những yếu tố được xem là quan trọng nhất ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm HbA1c trên toàn cầu bao gồm bệnh lý huyết sắc tố (phụ thuộc vào kỹ thuật xét nghiệm), các bệnh lý gây tình trạng thiếu máu và các bệnh lý rút ngắn đời sống hồng cầu như sốt rét. Tổ chức Sức khỏe Thế giới cũng khuyến cáo cần cân nhắc về tính tiện lợi và 1-NHỮNGVẤNĐỀCHUNGVỀBỆNHĐÁITHÁOĐƯỜNG
  21. 21. 21 1-NHỮNGVẤNĐỀCHUNGVỀBỆNHĐÁITHÁOĐƯỜNG hữu dụng của xét nghiệm HbA1c so với các xét nghiệm đường huyết trong chẩn đoán bệnh đái tháo đường do nhiều quốc gia trên thế giới vẫn chưa triển khai đầy đủ xét nghiệm này. Bên cạnh đó, việc chuẩn hóa kỹ thuật xét nghiệm HbA1c cũng giới hạn khả năng sử dụng HbA1c trên thực tế lâm sàng. - Sau nghiên cứu DCCT, Chương trình Chuẩn hóa Glycohemoglobin Quốc gia (NGSP: National Gly- cohaemoglobin Standardization Program) được thiết lập tại Hoa Kỳ và trong một thời gian dài chương trình này được xem là nền tảng để chuẩn hóa xét nghiệm HbA1c. Gần đây, Hiệp hội các nhà Hóa sinh Lâm sàng Quốc tế (IFCC: International Federation of Clinical Chemists) đã thành lập một nhóm chuyên viên nhằm nghiên cứu một chương trình chuẩn hóa rộng rãi xét nghiệm HbA1c toàn cầu. Cả NGSP và IFCC đồng ‎ý sẽ cộng tác để tìm ra một kỹ thuật xét nghiệm HbA1c tham chiếu nhằm hài hòa các kỹ thuật xét nghiệm HbA1c của các hảng sản xuất trên toàn thế giới. TIÊU CHÍ CHẨN ĐOÁN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG ADA/WHO 2011-2012: - Tiêu chí chẩn đoán đái tháo đường của tiên Hiệp hội Đái tháo đường Hoa kỳ sử dụng xét nghiệm HbA1c lần đầu được đề nghị vào năm 2009. Đến năm 2012, tiêu chí này được đề nghị như sau: A1c ≥ 6,5%. Xét nghiệm phải được tiến hành trong một cơ sở xét nghiệm sử dụng phương pháp xét nghiệm đã được NGSP cấp giấy chứng nhận và chuẩn hóa theo kỹ thuật xét nghiệm dùng trong nghiên cứu DCCT * HAY Đường huyết tương tĩnh mạch nhịn đói qua đêm ≥ 126 mg% (7,0 mmol/l) *. Nhịn đói ít nhất 8 giờ HAY Đường huyết 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp glucose (OGTT: Oral Glucose Tolerance Test) ≥ 200 mg% (11,1 mmol/l). Nghiệm pháp phải được tiến hành và tuân thủ chặt chẽ các điều kiện của Tổ chức Sức khỏe Thế giới yêu cầu, sử dụng tải glucose tương đương 75 g glucose khan được hòa tan trong nước * HAY Đường huyết tương tĩnh mạch bất kỳ ≥ 200 mg% (11,1 mmol/l) trên bệnh nhân có triệu chứng điển hình của tình trạng tăng đường huyết mạn tính hay cơn tăng đường huyết cấp tính * Trong trường hợp không có triệu chứng lâm sàng của tình trạng tăng đường huyết, cần phải lặp lại các tiêu chí chẩn đoán từ 1 đến 3 để xác định chẩn đoán - Hiệp hội Đái tháo đường Hoa kỳ cũng đưa ra các tiêu chí để chẩn đoán các đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh đái tháo đường như sau: Đường huyết đói từ 100 mg% (5,6 mmol/l) đên 125 mg% (6,9 mmol/l): Rối loạn đường huyết đói Đường huyết 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp 75 g glucose từ 140 mg% (7,8 mmol/l) đến 199 mg% (11,0 mmol/l): Rối loạn dung nạp glucose HbA1c từ 5,7% đến 6,4% - Ủy ban các chuyên gia của Tổ chức Sức khỏe Thế giới cũng thống nhất với các tiêu chí chẩn đoán đái tháo đường được Hiệp hội Đái tháo đường Hoa kỳ cập nhật vào năm 2012. Tuy nhiên với các khái niệm trung gian tiền đái tháo đường, ủy ban cũng đề nghị những giá trị HbA1c từ 6,0% đến <6,5% được xem là nhóm có nguy cơ đặc biệt cao mắc bệnh đái tháo đường và có thể cân nhắc tiếp cận các can thiệp phòng ngừa đái tháo đường. Đứng trên quan điểm phân tích các nghiên cứu y học thực chứng và các thuận lợi của xét nghiệm HbA1c, Ủy ban các chuyên gia cũng đồng ‎ đưa HbA1c vào tiêu chí chẩn đoán đái tháo đường với những điều kiện về kỹ thuật xét nghiệm, độ dao động thấp và nhất là phải được chuẩn hóa theo các yêu cầu của IFCC. Ủy ban cũng đề nghị mỗi quốc gia nên xem xét và quyết định thời điểm để áp dụng tiêu chí HbA1c để chẩn đoán đái tháo đường tùy theo những điều kiện cụ thể của từng nơi. Việc lựa chọn phương pháp, kỹ thuật xét nghiệm sẽ phụ thuộc vào sự cân nhắc địa phương về chi phí, giá thành, nhân lực, tổ chức, đặc điểm dân số, hệ thống bảo hiểm y tế,… Những nhà hoạch định chính sách trước tiên phải bảo đảm tính chuẩn xác và phổ quát của
  22. 22. 22 xét nghiệm đường huyết ở mức độ chăm sóc sức khỏe cộng đồng trước khi nghĩ đến chuyện triển khai HbA1c trong chần đoán bệnh đái tháo đường. Các chuyên gia cũng kết luận rằng chưa có đủ bằng chứng để đưa ra bất kỳ một khuyến cáo chính thức nào về các giá trị HbA1c dưới 6,5%. Ủy ban các chuyên gia của Tổ chức Sức khỏe Thế giới cũng đề nghị cần có thêm nhiêu nghiên cứu tiến cứu dọc để xác định một cách chuẩn xác hơn ngưỡng đường huyết và HbA1c tiên đoán các biến chứng mạch máu lớn và mạch máu nhỏ do đái tháo đường trên từng chủng tộc riêng biệt; đồng thời cũng cần thành lập một nhóm chuyên gia để xem xét lại và chuẩn hóa tất cả các kỹ thuật xét nghiệm liên quan đến HbA1c và đường huyết. Bảng 1: Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả HbA1c 1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất hồng cầu: Tăng HbA1c: thiếu sắt, thiếu vitamin B12, giảm sinh hồng cầu Giảm HbA1c: sử dụng erythropoietin, sắt, vitamin B12, bệnh gan mạn tính, tăng hồng cầu lưới 2. Thay đổi về hemoglobin: Các bệnh về huyết sắc tố, HbF, methemoglobin, thay đổi hemoglobin do di truyền hay hóa chất,... có thể làm tăng hay giảm HbA1c 3. Phản ứng glycat hóa: Tăng HbA1c: nghiện rượu, suy thận mạn, giảm độ pH trong hồng cầu Giảm HbA1c: dùng aspirin, vitamin C, vitamin E, bệnh huyết sắc tố, tăng độ pH trong hồng cầu Biến thể HbA1c: do di truyền 4. Phá hủy hồng cầu: Tăng HbA1c: tăng đời sống hồng cầu: sau cắt lách Giảm HbA1c: giảm đời sống hồng cầu: lách to, bệnh huyết sắc tố, viêm khớp dạng thấp, sử dụng thuốc chống virus, ribavirin, dapsone 5. Kỹ thuật xét nghiệm: Tăng HbA1c: tăng bilirubin, carbamyl hemoglobin, nghiện rượu, dùng aspirin liều cao, dùng thuốc phiện kéo dài Giảm HbA1c: tăng triglycerid máu Biến thể HbA1c: do di truyền Bảng 2: So sánh thuận lợi và bất lợi giữa xét nghiệm đường huyết và HbA1c Đường huyết HbA1c Chẩn bị bệnh nhân trước khi xét nghiệm Nhịn đói qua đêm ít nhất 8 giờ (ĐH đói) hay các điều kiện nghiêm ngặt của NPDN glucose Không cần Điều kiện bảo quản mẫu xét nghiệm Quay ly tâm tách huyết tương hay huyết thanh và giữ ở 4 độ C Giữ ở nhiệt độ > 23 độ C nếu xét nghiệm trong vòng 12 giờ kể từ khi lấy mẫu. Nếu giữ ở nhiệt độ 4 độ C sẽ ổn định trong 1 tuần Mức dộ phổ biến Rộng rãi Còn khiếm khuyết ở nhiều nơi Chẩn hóa Chuẩn hóa theo kỹ thuật xét nghiệm tham chiếu Chuẩn hóa theo kỹ thuật xét nghiệm tham chiếu Kiểm tra định kỳ Đầy đủ Đầy đủ Các bệnh ảnh hưởng Bệnh nặng và cấp tính có thẻ ảnh hưởng đến đường huyết Bệnh nặng có thẻ làm giảm đời sống hồng cầu Bệnh huyết sắc tố Ít ảnh hưởng Có thể ảnh hưởng đến kết quả tùy theo kỹ thuật xét nghiệm Chi phí Rẻ tiền Đắt tiền 1-NHỮNGVẤNĐỀCHUNGVỀBỆNHĐÁITHÁOĐƯỜNG
  23. 23. 23 1-NHỮNGVẤNĐỀCHUNGVỀBỆNHĐÁITHÁOĐƯỜNG KẾT LUẬN Không nên chẩn đoán đái tháo đường trên một đối tượng không có triệu chứng, chỉ đơn thuần dựa vào một giá trị đường huyết hay HbA1c bất thường. Cần lặp lại một lần xét nghiệm bổ sung và chẩn đoán được xác lập nếu có ít nhất hai kết quả đạt tiêu chí chẩn đoán đái tháo đường. Các xét nghiệm đường huyết hoặc HbA1c sử dụng máu mao mạch không được khuyến cáo dùng để chẩn đoán bệnh đái tháo đường; trừ phi đó là phương tiện duy nhất sẵn có. Cũng có thể sử dụng hai xét nghiệm cùng một lúc (ví dụ đường huyết đói và HbA1c) và nếu cả hai xét nghiệm đều đạt tiêu chí chẩn đoán thì xem như bệnh nhân đã được chẩn đoán đái tháo đường. Nếu chỉ có một trong hai xét nghiệm là bất thường, cần lặp lại xét nghiệm bất thường đó với cùng một kỹ thuật xét nghiệm trước khi xác định chẩn đoán. -- ~o0o~ -- KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA LẬP BẢN ĐỒ DỊCH TỄ HỌC BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TOÀN QUỐC NĂM 2012 VÀ XÂY DỰNG BỘ CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ NGUY CƠ MẮC BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG DÀNH CHO NGƯỜI VIỆT NAM Bệnh viện Nội tiết Trung Ương Tóm tắt 1. Đặt vấn đề. Trong hoàn cảnh gia tăng số lượng người mắc ĐTĐ và HCCH như những bệnh dịch nguy hiểm do thay đổi về lối sống, sự hiểu biết của cộng đồng về bệnh còn thấp Dự án quốc gia phòng chống ĐTĐ đã triển khai hoạt động lập bản đồ dịch tễ học đái tháo đường tại 06 vùng sinh thái trong Toàn quốc với mục tiêu:”Xác định tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường tại 06 vùng sinh thái ở Việt Nam năm 2012.. Xác định một số yếu tố nguy cơ với bệnh đái tháo đường tại Việt Nam”. 2.Phương pháp. Điều tra sử dụng phương pháp điều tra dịch tễ học mô tả cắt ngang. Điều tra tiến hành trên 11.191 người trong độ tuổi từ 30 – 69 tuổi. 3. Kết quả. Tỷ lệ mắc ĐTĐ tại các vùng là Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ lần lượt là: 4,82%, 5,81%, 6,37%, 3,82%, 5,95%, 7,18 % và Toàn Quốc là 5,42% (95%CI: 4,88% - 6,02%). Tỷ lệ mắc RLDNG máu tại các vùng Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ lần lượt là: 10,7%, 11,25%, 13,06%, 10,7%, 17,53%, 13,58% và toàn Quốc là 13,68%. Những người trên 45 tuổi có nguy cơ mắc ĐTĐ cao hơn những người dưới 45 tuổi là 4,42; những người có THA có nguy cơ mắc ĐTĐ cao hơn những người không mắc THA là 3,45 lần; những người có vòng eo lớn có nguy cơ mắc ĐTĐ cao hơn những người có vòng eo bình thường là 2,60 lần; những người có huyết áp tăng có nguy cơ mắc ĐTĐ cao hơn những người không mắc tăng huyết áp là 3,45 lần; tương ứng với việc có vòng eo lớn, những người có chỉ số khối cơ thể BMI ≥ 23 có nguy cơ mắc ĐTĐ cao hơn những người có chỉ số BMI < 23 là 2,01 lần; những người trong gia đình có tiền sử người mắc ĐTĐ thì có nguy cơ mắc ĐTĐ týp 2 cao hơn những người mà không có ai trong gia đình bị mắc ĐTĐ là 2,09 lần. Phần lớn người dân có mức hiểu biết về bệnh là rất thấp, 82,5% số đối tượng có kiến thức rất thấp, 15,9% có kiến thức thấp, 1,3% có kiến thức trung bình – khá. Chỉ có 0,3% có kiến thức tốt. 4. Bàn luận. tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ hai cuộc điều tra 2002 và 2012 sau 10 năm tỷ lệ bệnh ĐTĐ tăng từ 2,7% lên 5,42% tăng khoảng 201 %, đây là tỷ lệ báo động về gia tăng tỷ lệ bệnh ĐTĐ tại Việt Nam. Điều tra cũng chỉ ra một thực trạng đáng quan tâm ở nước ta khi tỷ lệ người bệnh mắc ĐTĐ trong cộng đồng không được phát hiện cao là 63,6% so với năm 2002. yếu tố nguy cơ theo y văn như tuổi, huyết áp, tiền sử có rối loạn chuyển hóa lipid, vòng eo nguy cơ, chỉ số khối cơ thể, tiền sử gia đình có người mắc bệnh ĐTĐ với tỷ lệ ĐTĐ và RLDNG thông qua giá trị p, OR nhận thấy các YTNC đều có liên quan chặt chẽ với mắc ĐTĐ với OR ≥ 2 lần, p<0,05.
  24. 24. 24 -- ~o0o~ -- TỈ LỆ ĐỐI TƯỢNG TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TẠI KHOA KHÁM CHỮA BỆNH THEO YÊU CẦU – BV BẠCH MAI PGS. TS. Đỗ Trung Quân - Đại học Y Hà Nội TÓM TẮT Mục tiêu: Nhận xét tỉ lệ đối tượng tiền đái tháo đường tại khoa KCBTYC – Bệnh viện Bạch mai Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là những người Việt Nam khoẻ mạnh, tuổi từ 30 - 69 đến khám sức khoẻ tại khoa KCBTYC – Bệnh viện Bạch mai từ tháng 2/2012 đến tháng 10/2012. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang. Kết quả và kết luận: Tỉ lệ tiền đái tháo đường là 38%, trong đó chủ yếu là nữ giới chiếm đến 68,5%. Tỉ lệ tiền đái tháo đường tăng dần theo tuổi, thấp nhất là ở nhóm tuổi 30 – 39 và cao nhất ở nhóm tuổi 60 – 69. SUMMARY PREVALENCE OF PREDIABETES IN OUTPATIENT DEPARTMENT OF BACH MAI HOSPITAL Objective: To estimate the prevalence of prediabetes in outpatient department of Bach mai hospital. Research subjects: Healthy Vietnamese people from 30 to 69 years of age had their health check up in out- patient department from 2/2012 to 10/2012 Method: descritive cross-sectional study Results and conclusion: The prevalence of prediabetes was 38% (68,5% in female). This was increased with age, lowest in aged 30 – 39 and highest in aged 60 – 69. -- ~o0o~ -- ĐIỀU TRA YẾU TỐ NGUY CƠ, BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2 ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH VIỆN VIỆT TIỆP HẢI PHÒNG NĂM 2006 BSCK II Trần Thị Mai, ThS. Nguyễn Thị Thùy Ngân Khoa Nội Tiết-Bệnh Viện Việt Tiệp Hải Phòng TÓM TẮT Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 179 bệnh nhân được chẩn đoán đái tháo đường týp 2 điều trị tại khoa nội 3-Bệnh viện việt Tiệp năm 2006, chúng tôi thấy: Nhóm tuối chiếm tỷ lệ cao nhất là 50-59 tuổi (34,1%), tỷ lệ nữ /nam ≈ 2/1. Các yếu tố nguy cơ thường gặp theo thứ tự giảm dần là: THA chiếm 45,8%; Thói quen ăn nhiều chất ngọt, béo chiếm 26,9%; uống rượu, hút thuốc lá chiếm 18,4%; tiền sử gia đình là 17,9%; béo phì là 16,8%; ít hoạt động thể lực là 13,4%; tiền sử sinh con > 4kg, rối loạn dung nạp glucose gặp 1,1%. Về mặt lâm sàng: nhóm triệu chứng ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều và gầy, sút cân chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 48,9% và 50,6%. Về cận lâm sàng: Ure, Glucose và Triglycerid cao hơn so với trị số bình thường ( p < 0,01 và p < 0,001). Các biến chứng gặp nhiều là: biến chứng mắt chiếm 41,9%, biến chứng thận 39,7%; biến chứng răng miệng 36.9%, tổn thương thần kinh ngoại vi 24,6%. Abstract Tile: Evaluation of risk factors and complications of type 2 diabetic pa- tients treated in Viet Tiep hospital- Hai Phong in 2006. Authors: Dr Tran Thi Mai, Dr Nguyen Thi Thuy Ngan. Department of Endocrinology – Viet Tiep Hospital – Hai Phong – Viet Nam Background: Diabetes mellitus is a metabolic disease characterized by hyperglycemia due to insulin resist- ance and deficit of insulin secretion from beta cells. The prevalence of type 2 diabetes is tremendously increas- 1-NHỮNGVẤNĐỀCHUNGVỀBỆNHĐÁITHÁOĐƯỜNG
  25. 25. 25 1-NHỮNGVẤNĐỀCHUNGVỀBỆNHĐÁITHÁOĐƯỜNG ing in the 21st century, especially in developing country. The prevalence of type 2 diabetes in Vietnam is also increasing particularly in big cities with rapid westernization. Therefore, we did a survey to evaluate the risk factors and complications in type 2 diabetic patients treated in Viet Tiep Hospital, Haiphong. Methods: This was a cross-sectional study including 179 patients hospitalized for diabetes in endocrinology department in 2006. Results: Hypertension was diagnosed in 45,8% of patients. Other risk factors such as high proportion of car- bohydrate and fat in the diet (26,9%), alcohol consumption and cigarette smoking (18,4%), family history of diabetes (17,9%), obesity (16,8%), physical inactivity (13,4%), macrosomia and impaired glucose tolerance (1,1%) were also recognized. Clinical symptoms such as polyphagia, polydipsia –polyuria, weight loss were reported by approximately half (48,9%) of the patients.. Serum urea, plasma glucose and triglycerides were higher than normal value (p < 0.01). The most common complications were retinopathy (41.9%), nephropathy (39.7%), buccal and dental complications (36.9%), and peripheral polyneuropathy (24.6%). -- ~o0o~ -- Đánh giá hiệu quả kiểm soát glucose máu sau ăn hai giờ củathuốc Glucobay thông qua chỉ số Hba1C ở bệnh nhân ĐTĐ typ2 điều trị ngoại trú tại Bệnh Viện Nội Tiết TƯ TS. BS. Trần Thị Thanh Hóa - Bệnh viện Nội tiết TƯ Tóm tắt Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả kiểm soát glucose máu sau ăn hai giờ của thuốc Glucobay thông qua chỉ số Hba1C ở bệnh nhân ĐTĐtyp2 điều trị ngoại trú tại Bệnh Viện Nội Tiết và tác dụng không mong muốn của thuốc Glucobay. Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu có so sánh. Bệnh nhân tuổi từ 30 đến 69, được chẩn đoán ĐTĐ type2 theo WHO năm 1998 đang điều trị các nhóm thuốc viên hạ glucose máu, những bệnh nhân này được định luợng Glucose máu lúc đói, glucose máu hai giờ sau ăn cho mỗi lần khám và định lượng Hba1c trước khi nhận vào nghiên cứu và kết thúc sau 16 tuần điều trị ngoại trú tại Bệnh Viện Nội Tiết. Chúng tôi chọn các bệnh nhân ĐTĐ, những bệnh nhân này làm xét nghiệm Glucose máu hai giờ sau ăn ≥ 8,0 mmol/l ( theo tiêu chuẩn của IDF). Nhóm chứng chọn 30 bệnh nhân tuổi từ 30 đến 69 chẩn đoán ĐTĐtyp2 điều trị các nhóm thuốc viên hạ glucose huyết, các bệnh nhân này được định luợng Glucose máu lúc đói, glucose máu hai giờ sau ăn và Hba1c trước khi nhận vào nghiên cứu và kết thúc sau 16 tuần và nhóm bệnh nhân này không sử dụng thuốc glucobay để so sánh với nhóm bệnh nhân có phối hợp thuốc Glucobay điều trị ngoại trú tại Bệnh Viện Nội Tiết. Kết luận: Tỉ lệ giảm đường huyết sau ăn trước điều trị và đường huyết sau ăn sau 16 tuần điều trị giảm được 23% (3,84mmol/l) có ý nghĩa thống kê. Nhóm bệnh chỉ số HbA1c trung bình trước điều trị là 8,62% ± 1,12% sau điều trị chỉ số HbA1c là 7,96% ± 1,18%, giảm được 0,66%. Nhóm chứng chỉ số HbA1c trung bình trước điều trị và sau điều trị không giảm mà lại tăng lên 0,1%. Triệu chứng đầy hơi gặp 28 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 25,2%,tiêu chảy gặp 12 bệnh nhân chiếm 10%, không có bệnh nhân nào phải rút khỏi nhóm nghiên cứu. Abstract Aims: this is a self-hand-pocket study to evaluate the efficacies of Glucobay at 2 hours after meals through HbA1C in T2DM out-patients in Endocrinology institute; Define the adversed events of Glucobay on local out-patients. Method: A prospective study comparing group of 111 T2DM out-patients of Endocrinology institute to other group of 30 T2DM patients, using other kinds of ODA_ Following their treatment during 16 weeks, measuring Fasting Plasma Glucose test and HbA1C regularly, focused on the special period of before and after treatment. Results: There were the significant decline of PPG (on comparing mean PPG before and after 16 weeks of treatment) (23% _ 3.84 mmol/L), the mean HbA1C declined clearly in Glucobay group (0.66%) comparing to
  26. 26. 26 group of other ODA patients. Besides, the side effects were defined as bloating, gas (25.2%), diarrhea (10%), headache (7.2%), but no patient was withdrawn from this study due to side effects. -- ~o0o~ -- NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG KHÁNG INSULIN Ở BỆNH NHÂN ĐTĐ TYP2 TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TW THÁI NGUYÊN Phạm Thị Nhuận BVĐKTƯ Thái Nguyên TÓM TẮT Kháng insulin (KI) đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của bệnh đái tháo đường (ĐTĐ). Nó đồng hành với béo phì và một số nguy cơ tim mạch khác. Có nhiều phương pháp đánh giá sự KI, chỉ số HOMA-IR ( HomaOstasis Model Assessent – Insulin Resistance) là một trong những chỉ số thường được sử dụng để đánh giá tình trạng KI ở bệnh nhân ĐTĐ typ2. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá tình trạng KI ở bệnh nhân ĐTĐ typ2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: - 185 đối tượng nghiên cứu, gồm: + Nhóm chứng: 40 người khoẻ mạnh, + Nhóm bệnh nhân ĐTĐ typ2:145 người. -Tất cả đều được khám lâm sàng và lấy máu xét nghiệm. -Chỉ số HOMA-IR được tính theo công thức: HOMA- IR = I0(µu/ml) x G0(mmol/l) / 22,5. -Xử lý số liệu theo chương trình SPSS 13.0 Kết quả: -Tỷ lệ KI ở bệnh nhân ĐTĐ typ2 trong nhóm nghiên cứu là 73,8%, -Hàm lượng insulin và chỉ số KI (HOMA-IR) ở bệnh nhân ĐTĐ typ2cao hơn so với nhóm chứng,với p < 0,05. -Hàm lượng insulin, rối loạn chuyển hoá lipid, tỷ lệ tăng huyết áp, số đo vòng bụng / vòng mông ở nhóm bệnh nhân ĐTĐ typ2 có KI cao hơn so với nhóm ĐTĐ typ2 không KI, với p < 0,05. SUMMARY Background: Insulin resistance (IR) plays an important role in the pathophysiology of type 2 diabetes mel- litus. It is well correlated with obesity and others cardiovascular risk factors. There are many methods for evaluating IR in type 2 diabetic patients, and the index of Homeostasis model assessent – Insulin resistance (HOMA- IR) is the most common method. Aim of the study: to evaluate the IR in type 2 diabetic patients by HOMA-IR. Subject and methods: In this case control study, we evaluated the insulin resistance in 145 type 2 diabetic patients using the HOMA-IR formula and compared with 40 healthy subjects. Results: The prevenlence of IR in type 2 diabetic patients was 73,8%, statistically higher than in the control group (p < 0,05). Other components of the metabolic syndrome such as insulinemia, lipidemia, waist-to-hip ratio and the prevalence of hypertension were much higher in diabetic patients with IR than in diabetic patients without IR (p < 0.05). 1-NHỮNGVẤNĐỀCHUNGVỀBỆNHĐÁITHÁOĐƯỜNG
  27. 27. 27 1-NHỮNGVẤNĐỀCHUNGVỀBỆNHĐÁITHÁOĐƯỜNG -- ~o0o~ -- Nồng độ insulin, chỉ số kháng insulin, độ nhạy insulin và chức năng tế bào bêta xác định theo mô hình HOMA 2 ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 trên 60 tuổi chẩn đoán lần đầu BSCK II. Nguyễn Hòa Hiệp - BVĐK Thống nhất - Đồng Nai PGS. TS. Hoàng Trung Vinh - Học viện Quân y TS. Bùi Văn Mạnh - Học viện Quân y TÓM TẮT Khảo sát nồng độ insulin, chỉ số kháng insulin (HOMA 2-IR), độ nhạy insulin (HOMA 2.%S), và chức năng tiết insulin của tế bào bêta (HOMA 2.%B) xác định bằng mô hình HOMA 2 ở 62 bệnh nhân (BN) đái tháo đường typ 2 (ĐTĐ typ 2) tuổi trên 60 chẩn đoán lần đầu có so sánh với nhóm chứng khỏe mạnh và nhóm chứng bệnh. Kết quả nhận thấy: Giá trị trung bình nồng độ insulin, HOMA 2-IR tăng; HOMA 2-%S, HOMA 2-%B giảm so với cả hai nhóm chứng. Số BN có tăng nồng đôn insulin, giảm HOMA 2-%B chiếm tỉ lệ cao, số BN có tăng HOMA 2-IR, giảm HOMA 2-%S tương đương so với nhóm chứng bệnh. Giá trị trung bình HOMA 2-IR tăng, HOMA 2-%S giảm ở bệnh nhân dư cân, béo, tăng huyết áp (THA), rối loạn lipid máu (RLLP) so với ở những bệnh nhân có các chỉ số trên ở mức bình thường song liên quan không có ý nghĩa với hội chứng chuyển hóa (HCCH) Từ khóa: Đái tháo đường typ 2, đái tháo đường typ 2 ở người cao tuổi, kháng insulin, độ nhạy insulin, chức năng tế bào bêta. SUMMARY Evaluation of insulin concentration, insulin resistance, insulin sensitiv- ity and insulin secretion by HOMA 2 model in diabetic patients first diag- nosed at the age of 60. Aims of the study: (1) to investigate insulin level, insulin resistance, insulin sensitivity and insulin secretion by HOMA 2 model in 62 diabetic patients first diagnosed at the age of 60 and (2) to compare these variables with the control healthy group and with diabetic patients less than 60 years old. Results: the mean value of insulin level and the HOMA 2-IR were higher, HOM2-%S and HOM 2-%B were lower in the diabetic group first diagnosed at the age of 60 than in the two control groups.The rate of patients with high insulin level, low HOMA 2-%B were higher and the rate of patients with high HOMA 2-IR, low HOMA 2-%S were similar compared with diabetic patients less than 60 years old group. The mean value of HOMA 2-IR was increased, HOMA 2-%S was decreased in patients with overweight, high circumference, hypertension, dyslipidemia but have no significant relation with metabolic syndrome. -- ~o0o~ -- Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số biến chứng ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 trên 60 tuổi chẩn đoán lần đầu BSCK II. Nguyễn Hòa Hiệp - BVĐK Thống nhất - Đồng Nai PGS. TS. Hoàng Trung Vinh - Học viện Quân y TS. Bùi Văn Mạnh - Học viện Quân y TÓM TẮT So sánh triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, bệnh kết hợp và một số biến chứng cơ quan đích ở 62 bệnh nhân (BN) đái tháo đường typ 2 (ĐTĐ typ 2) trên 60 tuổi được chẩn đoán lần đầu với 42 BN ĐTĐ typ 2 dưới 60 tuổi cũng chẩn đoán lần đầu.
  28. 28. 28 Tài liệu thông tin cho cán bộ y tế DPTK_LV_LBL_002_2013-Ngàyhiệulực:ngày17tháng04năm2014 THÔNG TIN KÊ TOA TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. Blonde L. et al. Diabetes, Obesity and Metabolism 2009;11:623–631; 2. Hermansen K. et al. Diabetes Care 2006;29:1269–1274; 3. Thông tin kê toa Levemir® được phê duyệt bởi cục Quản lý dược Việt Nam; 4. Philis-Tsimikas A. et al. Clin Ther 2006; 28:1569–1581; 5. Rosenstock J. et al. Diabetologia 2008;51:408–416. THUẬN TIỆN VỚI BÚT TIÊM FLEXPEN® KIỂM SOÁT HbA1c HIỆU QUẢ1,2 THUẬN TIỆN VỚI BÚT TIÊM FLEXPEN KIỂM SOÁT HbA1c HIỆU QUẢ LIỀU TIÊM 1 LẦN/NGÀY Màu sắc của bút tiêm dễ nhận biết Thiết kế sử dụng với kim tiêm NovoFine® Số giấy tiếp nhận hồ sơ đăng ký tài liệu thông tin thuốc của Cục QLD-Bộ Y Tế: 0085/14/QLD-TT, Ngày 17 tháng 04 năm 2014 - Ngày in tài liệu: Ngày 08 tháng 05 năm 2014 Insulin nền cho bệnh nhân đái tháo đường3FlexPen® (insulin detemir) Thông tin chi tiết, xin liên hệ: Lầu 2, Tòa nhà E-Town 2 364 Cộng Hòa, Q. Tân Bình, TP.HCM ĐT: +84 3812 5848 Fax: +84 38125842 VPĐD Novo Nordisk Pharma Operations A/S Tầng 19, phòng 1908, toà nhà SunWah 115 Nguyễn Huệ, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh ĐT: +84 8 3915 3636 Fax: +84 8 3915 3636 Công ty phân phối: Vimedimex Bình Dương 18L 1-2 VSIP II, Đường Số 3, KCN Việt Nam - Singapore 2, Thủ Dầu Một, Bình Dương FlexPen® (insulin detemir) Levemir® FlexPen® Rx thuốc bán theo đơn Insulin detemir 100 U/ml, dung dịch tiêm chứa trong bút tiêm bơm sẵn thuốc. THÀNH PHẦN ĐỊNH TÍNH VÀ ĐỊNH LƯỢNG:1 ml dung dịch chứa 100 đơn vị (U) insulin detemir* (tương đương với 14,2 mg). 1 bút tiêm bơm sẵn thuốc chứa 3 ml tương đương với 300 đơn vị. * Insulin detemir được sản xuất bằng kỹ thuật DNA tái tổ hợp trong tế bào Saccharomyces cerevisiae. 1 đơn vị (U) insulin detemir tương ứng với 1 đơn vị quốc tế (IU) insulin người. DẠNG BÀO CHẾ: Dung dịch tiêm trong suốt, không màu, trung tính chứa trong bút tiêm FlexPen® bơm sẵn thuốc. CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ: Điều trị bệnh đái tháo đường ở người lớn, thiếu niên và trẻ em từ 2 tuổi trở lên.LIỀU LƯỢNG VÀ CÁCH DÙNG:Levemir® FlexPen® là chất tương tự insulin nền, hòa tan có thời gian tác dụng kéo dài (đến 24 giờ). So với các insulin khác, chế độ điều trị insulin nền-bolus với Levemir® FlexPen® không kèm theo tăng cân. Nguy cơ hạ đường huyết về ban đêm thấp hơn so với insulin NPH (Neutral Protamine Hagedorn) cho phép chuẩn độ liều tăng cao hơn nhằm đạt được mức glucose huyết mục tiêu trong chế độ điều trị insulin nền-bolus. Levemir® FlexPen® đem lại sự kiểm soát đường huyết tốt hơn khi đo glucose huyết tương lúc đói (FPG) so với điều trị bằng insulin NPH. Levemir® FlexPen® có thể dùng đơn độc dưới dạng insulin nền hoặc kết hợp với insulin bolus. Levemir® FlexPen® cũng có thể dùng kết hợp với các thuốc điều trị đái tháo đường dạng uống hoặc dưới dạng liệu pháp bổ trợ cho điều trị bằng liraglutid. Liều lượng: Khi kết hợp với các thuốc điều trị đái tháo đường dạng uống hoặc bổ trợ cho liraglutid, khuyến cáo dùng Levemir® FlexPen® 1 lần/ngày, liều khởi đầu là 10 U hoặc 0,1-0,2 U/kg.Liều Levemir® FlexPen® nên được chuẩn độ dựa trên nhu cầu của từng bệnh nhân. Dựa trên các kết quả nghiên cứu, có thể sử dụng hướng dẫn chuẩn độ liều sau đây: * Self Monitored Plasma Glucose: Glucose huyết tương tự theo dõi.Khi Levemir® FlexPen® được sử dụng như một phần của chế độ điều trị insulin nền-bolus, nên dùng Levemir® FlexPen® một hoặc hai lần mỗi ngày tùy theo nhu cầu của bệnh nhân. Liều Levemir® FlexPen® nên được điều chỉnh theo từng bệnh nhân. Đối với những bệnh nhân cần dùng liều hai lần mỗi ngày để kiểm soát tối ưu glucose huyết, liều buổi tối có thể sử dụng vào buổi tối hoặc lúc đi ngủ. Việc điều chỉnh liều có thể cần thiết nếu bệnh nhân tăng hoạt động thể lực, thay đổi chế độ ăn thông thường hoặc đang có bệnh kèm theo.Nhóm bệnh nhân đặc biệt:Cũng như với tất cả các sản phẩm insulin, ở những bệnh nhân cao tuổi và những bệnh nhân suy thận hoặc suy gan, nên tăng cường theo dõi glucose và liều Levemir® FlexPen® nên được điều chỉnh theo từng bệnh nhân. Hiệu quả và an toàn của Levemir® FlexPen® đã được chứng minh ở thiếu niên và trẻ em từ 2 tuổi trở lên trong các nghiên cứu đến 12 tháng. Chuyển sang từ những sản phẩm insulin khác:Có thể cần phải điều chỉnh liều và thời gian tiêm thuốc khi chuyển từ các sản phẩm insulin tác dụng trung gian hoặc insulin tác dụng kéo dài sang Levemir® FlexPen® . Cách dùng: Đường dùng: Tiêm dưới da. Levemir® FlexPen® chỉ dùng tiêm dưới da. Levemir® FlexPen® không được tiêm tĩnh mạch vì có thể gây hạ đường huyết trầm trọng. Tiêm bắp cũng nên tránh. Levemir® FlexPen® không được sử dụng trong bơm truyền insulin. Levemir® FlexPen® được dùng tiêm dưới da vùng thành bụng, đùi, phần trên cánh tay, vùng cơ delta hoặc vùng mông. Nên luôn thay đổi vị trí tiêm trong cùng một vùng tiêm để giảm nguy cơ loạn dưỡng mỡ. Cũng như với tất cả các sản phẩm insulin, thời gian tác dụng sẽ thay đổi tùy theo liều dùng, vị trí tiêm, lưu lượng máu, nhiệt độ và mức độ hoạt động thể lực. CHỐNG CHỈ ĐỊNH: Quá mẫn với hoạt chất hay bất kỳ tá dược nào của thuốc. Cảnh báo và thận trọng đặc biệt khi sử dụng: Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng. Nếu cần thêm thông tin, xin hỏi ý kiến bác sĩ. Thuốc này chỉ dùng theo đơn của bác sĩ. Trước khi đi du lịch đến nơi có sự khác biệt về múi giờ, bệnh nhân nên tham khảo ý kiến bác sĩ, vì điều này có nghĩa là bệnh nhân phải tiêm insulin và dùng bữa ăn vào những thời điểm khác. Tăng đường huyết: Việc điều trị insulin không đủ liều hoặc không liên tục, đặc biệt trong đái tháo đường type 1, có thể dẫn đến tăng đường huyết và nhiễm toan ceton do đái tháo đường. Thông thường, các triệu chứng đầu tiên của tăng đường huyết xuất hiện từ từ, kéo dài trong vài giờ hoặc vài ngày. Những triệu chứng này bao gồm khát, tiểu nhiều lần, buồn nôn, nôn, buồn ngủ, da khô đỏ, khô miệng, mất sự ngon miệng và hơi thở có mùi aceton. Trong đái tháo đường type 1, các trường hợp tăng đường huyết không được điều trị cuối cùng sẽ dẫn đến nhiễm toan ceton do đái tháo đường, có khả năng gây tử vong. Hạ đường huyết: Bỏ một bữa ăn hay luyện tập thể lực gắng sức, không có kế hoạch có thể dẫn đến hạ đường huyết. Hạ đường huyết có thể xảy ra nếu liều insulin quá cao so với nhu cầu insulin. Những bệnh nhân có sự kiểm soát glucose huyết được cải thiện rõ, ví dụ do liệu pháp insulin tích cực, có thể có thay đổi về những triệu chứng báo trước thường gặp của hạ đường huyết và nên được bác sĩ thông báo trước. Những triệu chứng báo hiệu thường thấy có thể mất đi ở những bệnh nhân bị bệnh đái tháo đường đã lâu. Các bệnh đi kèm, đặc biệt tình trạng nhiễm trùng và sốt, thường làm tăng nhu cầu insulin của bệnh nhân. Các bệnh đi kèm ở thận, gan hoặc bệnh ảnh hưởng đến tuyến thượng thận, tuyến yên hoặc tuyến giáp có thể đòi hỏi thay đổi liều insulin. Chuyển sang từ các sản phẩm insulin khác: Khi chuyển bệnh nhân sang sử dụng loại insulin hay nhãn hiệu insulin khác cần thực hiện dưới sự giám sát y tế chặt chẽ. Phản ứng tại chỗ tiêm: Cũng như bất kỳ liệu pháp insulin nào khác, có thể có phản ứng tại chỗ tiêm, bao gồm đau, đỏ, nổi mề đay, viêm, thâm tím, sưng và ngứa. Thay đổi liên tục chỗ tiêm trong vùng tiêm có thể giúp làm giảm hoặc phòng tránh các phản ứng này. Những phản ứng trên thường qua đi trong vài ngày đến vài tuần. Trong một số trường hợp hiếm gặp, phản ứng tại chỗ tiêm có thể đòi hỏi phải ngừng sử dụng Levemir® FlexPen® . Kết hợp thiazolidinedione và các thuốc insulin: Đã có báo cáo về các trường hợp suy tim sung huyết khi dùng thiazolidinedione kết hợp với insulin, đặc biệt ở những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ về phát triển suy tim sung huyết. Cần phải nhớ điều này nếu xem xét điều trị kết hợp thiazolidinedione với các thuốc insulin. Nếu sử dụng kết hợp, phải theo dõi bệnh nhân về các dấu hiệu và triệu chứng của suy tim sung huyết, tăng cân và phù. Phải ngừng sử dụng thiazolidinedione nếu xảy ra bất kỳ triệu chứng nào về tim xấu đi. TƯƠNG TÁC VỚI CÁC THUỐC KHÁC VÀ CÁC DẠNG TƯƠNG TÁC KHÁC: Một số thuốc được biết là có tương tác với chuyển hóa glucose. Những chất sau đây có thể làm giảm nhu cầu insulin của bệnh nhân: Các thuốc chống đái tháo đường dạng uống, chất ức chế monoamine oxidase (MAOI), thuốc chẹn beta, chất ức chế enzyme chuyển angiotensin (ACE), salicylat, các steroid đồng hóa và sulphonamid. Những chất sau đây có thể làm tăng nhu cầu insulin của bệnh nhân: Các thuốc tránh thai dạng uống, thiazid, glucocorticoid, hormone tuyến giáp, chất giống giao cảm, hormone tăng trưởng và danazol. Các thuốc chẹn beta có thể che lấp các triệu chứng hạ đường huyết. Octreotid/lanreotid có thể làm tăng hay giảm nhu cầu insulin. Rượu có thể làm tăng hoặc làm giảm tác dụng hạ đường huyết của insulin.PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ CHO CON BÚ: Có thể xem xét điều trị bằng Levemir® FlexPen® trong thời kỳ mang thai nếu lợi ích biện minh được cho nguy cơ có thể xảy ra. Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng ở phụ nữ mang thai bị đái tháo đường type 1 so sánh Levemir® FlexPen® (n=152) với insulin NPH (n=158), cả hai kết hợp với insulin aspart. Kết quả cho thấy insulin detemir và insulin NPH có hiệu quả tương tự và một dữ liệu an toàn tổng thể tương tự trong thời kỳ mang thai, kết quả của mang thai cũng như đối với thai nhi và trẻ sơ sinh. Các dữ liệu hậu mãi từ khoảng 300 kết quả bổ sung ở phụ nữ mang thai sử dụng Levemir® FlexPen® cho thấy insulin determir không có tác dụng bất lợi đến quá trình mang thai và không có độc tính gây dị tật hoặc hoặc độc tính đối với thai nhi/trẻ sơ sinh. Các dữ liệu trên động vật không cho thấy độc tính đối với sinh sản. Phụ nữ cho con bú: Chưa rõ có phải insulin detemir được bài tiết vào sữa mẹ hay không. Có thể cần phải điều chỉnh liều insulin ở phụ nữ cho con bú.TÁC ĐỘNG TRÊN KHẢ NĂNG LÁI XE VÀ SỬ DỤNG MÁY MÓC:Khả năng tập trung và phản ứng của bệnh nhân có thể bị suy giảm do hậu quả của hạ đường huyết. TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN: Tóm tắt về các dữ liệu an toàn: Các phản ứng phụ đã quan sát thấy ở bệnh nhân sử dụng Levemir® FlexPen® chủ yếu là do tác dụng dược lý của insulin. Ước tính tổng tỷ lệ phần trăm bệnh nhân điều trị dự kiến sẽ gặp các phản ứng phụ của thuốc là 12%. Bảng danh mục các phản ứng phụ: Rất thường gặp (≥ 1/10): Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng - hạ đường huyết. Thường gặp (≥ 1/100 đến <1/10): Rối loạn toàn thân và tình trạng tại chỗ tiêm - phản ứng tại chỗ tiêm. Ít gặp (≥ 1/1.000 đến <1/100): Rối loạn hệ miễn dịch như phản ứng dị ứng, phản ứng dị ứng tiềm ẩn, nổi mề đay, nổi ban, phát ban; Rối loạn mắt: rối loạn khúc xạ, bệnh võng mạc do đái tháo đường; rối loạn da và mô dưới da; Loạn dưỡng mỡ; Phù. Hiếm gặp (≥1/10.000 đến < 1/1.000): Rối loạn hệ thần kinh như bệnh thần kinh ngoại biên (bệnh đau thần kinh). Rất hiếm gặp (<1/10.000): Phản ứng phản vệ. Thông báo cho bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc. Các đặc tính của thuốc: Tương kỵ: Những chất thêm vào Levemir® FlexPen® có thể gây thoái biến insulin detemir, như các thuốc chứa thiol hoặc sulphite. Levemir® FlexPen® không được pha vào dịch truyền. Thuốc này không được trộn với các thuốc khác. Hạn dùng: 30 tháng kể từ ngày sản xuất. Thận trọng đặc biệt khi bảo quản: Bảo quản trong tủ lạnh (2°C - 8°C). Để xa bộ phận làm lạnh. Không để đông lạnh. Đậy nắp FlexPen® để tránh ánh sáng. Levemir® FlexPen® phải được bảo vệ tránh nguồn nhiệt và ánh sáng quá mức. Sau khi sử dụng lần đầu hoặc mang theo dự phòng: Không để trong tủ lạnh. Bảo quản dưới 30°C. Khi đang sử dụng, hạn dùng là 6 tuần. Để xa tầm tay và tầm nhìn của trẻ em. Không dùng Levemir® FlexPen® quá hạn sử dụng đã in trên bao bì. Quy cách đóng gói: Hộp 5 bút tiêm bơm sẵn thuốc x 3 ml. Sản xuất bởi Novo Nordisk A/S Novo Allé, DK-2880 Bagsværd, Denmark. Levemir® , FlexPen® , NovoFine® và NovoTwist™ là các nhãn hiệu của Novo Nordisk A/S, Denmark. Glucose huyết tương trung bình tự theo dõi trước bữa ăn sáng (SMPG)* Điều chỉnh liều Levemir® FlexPen® > 10,0 mmol/l (180 mg/dl) 9,1-10,0 mmol/l(163-180 mg/dl) 8,1-9,0 mmol/l (145-162 mg/dl) 7,1-8,0 mmol/l (127-144 mg/dl) 6,1-7,0 mmol/l (109-126 mg/dl) 4,1-6,0 mmol/l: Nếu số đo glucose huyết tương tự theo dõi 3,1-4,0 mmol/l (56-72 mg/dl) < 3,1 mmol/l (< 56 mg/dl) + 8 U + 6 U + 4 U + 2 U + 2 U không thay đổi (mục tiêu) - 2 U - 4 U
  29. 29. 29 DPTK_NR_LBL_003_2013-Ngàyhiệulực:ngày21tháng08năm2014 NovoRapid® FlexPen® Rx thuốc bán theo đơn Insulin aspart 100 U/ml. Dung dịch tiêm chứa trong bút tiêm bơm sẵn thuốc. Thành phần định tính và định lượng: 1 ml dung dịch chứa 100 U insulin aspart* (tương đương với 3,5 mg). 1 bút tiêm bơm sẵn thuốc chứa 3 ml tương đương với 300 U. * Insulin aspart được sản xuất bằng kỹ thuật DNA tái tổ hợp trong tế bào Saccharomyces cerevisiae. Dạng bào chế: Dung dịch tiêm trong suốt, không màu, trung tính chứa trong bút tiêm bơm sẵn thuốc. Chỉ định điều trị:Điều trị bệnh đái tháo đường ở người lớn, thiếu niên và trẻ em từ 2 tuổi đến 17 tuổi. Liều lượng và cách dùng: NovoRapid® là chất tương tự insulin có tác dụng nhanh. Liều dùng của NovoRapid® là liều riêng lẻ và được xác định theo nhu cầu của bệnh nhân. Nó thường được sử dụng kết hợp với insulin tác dụng trung gian hoặc tác dụng kéo dài, dùng ít nhất một lần một ngày. Cần theo dõi đường huyết và điều chỉnh liều lượng insulin để đạt được sự kiểm soát đường huyết tối ưu. Nhu cầu cá nhân insulin ở người lớn và trẻ em thường là từ 0,5 và 1,0 U/kg/ngày. Trong một chế độ điều trị insulin nền- insulin tác dụng nhanh, 50-70% nhu cầu này được cung cấp bởi NovoRapid® và phần còn lại bởi insulin tác dụng trung gian hoặc tác dụng kéo dài. NovoRapid® có khởi phát tác dụng nhanh hơn và thời gian tác dụng ngắn hơn so với insulin người dạng hòa tan. Do khởi phát tác dụng nhanh hơn, nên thường dùng NovoRapid® ngay trước bữa ăn. Khi cần thiết, có thể dùng NovoRapid® ngay sau bữa ăn. Do thời gian tác dụng ngắn hơn, NovoRapid® ít có nguy cơ gây ra các cơn hạ đường huyết ban đêm.Nhóm bệnh nhân đặc biệt:Cũng như các sản phẩm insulin khác, ở những bệnh nhân cao tuổi và những bệnh nhân suy thận hoặc suy gan, nên tăng cường theo dõi glucose và liều insulin aspart nên được điều chỉnh theo từng bệnh nhân. Sử dụng trong Nhi khoa:NovoRapid® có thể được sử dụng cho trẻ em ưa dùng insulin người dạng hòa tan do có lợi thế ở tác dụng ban đầu nhanh của sản phẩm. Ví dụ, lựa chọn thời điểm tiêm thuốc có liên quan đến bữa ăn.Chuyển sang từ những sản phẩm insulin khác:Khi chuyển sang từ những sản phẩm insulin khác, cần phải điều chỉnh liều của NovoRapid® và liều của insulin nền.Cách dùng: Đường dùng: Tiêm dưới da, truyền insulin dưới da liên tục (CSII), truyền tĩnh mạch. Sử dụng với FlexPen® : NovoRapid® được dùng tiêm dưới da vùng thành bụng, đùi, phần trên cánh tay, vùng cơ delta hoặc vùng mông. Vì vậy nên luôn thay đổi vị trí tiêm trong vùng tiêm. Cũng như các sản phẩm insulin khác, tiêm dưới da vùng thành bụng đảm bảo sự hấp thu nhanh hơn các vị trí tiêm khác. Thời gian tác dụng sẽ thay đổi tùy theo liều dùng, vị trí tiêm, lưu lượng máu, nhiệt độ và mức độ hoạt động thể lực. Tuy nhiên, tác dụng khởi phát nhanh hơn so với insulin người dạng hòa tan luôn được duy trì mà không liên quan đến vị trí tiêm. Truyền insulin dưới da liên tục (CSII): NovoRapid® có thể dùng để truyền insulin dưới da liên tục (CSII) trong hệ thống bơm phù hợp với việc truyền insulin. CSII nên được thực hiện ở vùng thành bụng. Nên thay đổi vị trí truyền trong vùng truyền. Không nên trộn NovoRapid® với bất kỳ một sản phẩm insulin nào khác khi sử dụng bơm truyền insulin. Bệnh nhân sử dụng NovoRapid® qua đường dùng CSII phải có insulin thay thế có sẵn trong trường hợp lỗi hệ thống bơm. Dùng đường tĩnh mạch: Nếu cần thiết, có thể dùng NovoRapid® qua đường tĩnh mạch bởi các cán bộ chăm sóc y tế. Để sử dụng đường tĩnh mạch, hệ thống truyền với NovoRapid® 100 U/ml ở nồng độ từ 0,05 U/ml đến 0,1 U/ml insulin aspart trong dịch truyền natri chlorid 0,9%, dextrose 5% hoặc dextrose 10% kể cả kali chlorid 40 mmol/l sử dụng túi truyền polypropylen ổn định ở nhiệt độ phòng trong 24 giờ. Mặc dù ổn định theo thời gian, một số lượng nhất định insulin sẽ lưu lại trên bề mặt túi truyền dịch. Việc theo dõi đường huyết là cần thiết trong suốt quá trình truyền insulin.Cảnh báo và thận trọng đặc biệt khi sử dụng:Tăng đường huyết:Trước khi di chuyển đến những nơi có sự khác nhau về múi giờ, bệnh nhân nên tham khảo ý kiến bác sĩ, vì điều này có nghĩa là bệnh nhân phải tiêm insulin và dùng bữa ăn vào những thời điểm khác. Việc điều trị insulin không đủ liều hoặc không liên tục, đặc biệt trong đái tháo đường type 1, có thể dẫn đến tăng đường huyết và nhiễm toan ceton do đái tháo đường.Hạ đường huyết: Bỏ một bữa ăn hay luyện tập thể lực không có kế hoạch, quá mức có thể dẫn đến hạ đường huyết. Hạ đường huyết có thể xảy ra nếu liều insulin quá cao so với nhu cầu insulin. Vì NovoRapid® được dùng ngay sát bữa ăn nên cần xem xét đến tác dụng khởi phát nhanh ở những bệnh nhân đang có bệnh đi kèm hoặc đang dùng thuốc vì việc đang dùng thuốc và có bệnh đi kèm có thể làm chậm sự hấp thu thức ăn. Các bệnh đi kèm, đặc biệt tình trạng nhiễm trùng và sốt, thường làm tăng nhu cầu insulin của bệnh nhân. Khi bệnh nhân chuyển sang dùng giữa các loại sản phẩm insulin khác nhau, các triệu chứng cảnh báo sớm của hạ đường huyết có thể trở nên ít rõ rệt hơn so với với loại insulin trước đó.Chuyển sang từ các sản phẩm insulin khác: Khi chuyển bệnh nhân sang sử dụng loại insulin hay nhãn hiệu insulin khác (như nồng độ hoặc nhà sản xuất) cần thực hiện dưới sự giám sát chặt chẽ của bác sĩ.Phản ứng tại chỗ tiêm: Cũng như các trị liệu insulin khác, có thể có phản ứng tại chỗ tiêm và bao gồm đau, đỏ, nổi mày đay, viêm, thâm tím, sưng và ngứa. Thay đổi liên tục chỗ tiêm trong vùng tiêm có thể giúp làm giảm hoặc phòng tránh các phản ứng trên. Các phản ứng trên thường qua đi trong vài ngày đến vài tuần. Trong một số trường hợp hiếm gặp, phản ứng tại chỗ tiêm có thể cần phải ngừng sử dụng NovoRapid® . TƯƠNG TÁC THUỐC:Những chất sau đây có thể làm giảm nhu cầu insulin của bệnh nhân:Các thuốc chống đái tháo đường dạng uống, chất ức chế monoamine oxidase (MAOIs), thuốc chẹn beta, chất ức chế men chuyển angiotensin (ACE), salicylat, các steroid đồng hóa và sulphonamid. Những chất sau đây có thể làm tăng nhu cầu insulin của bệnh nhân: Các thuốc tránh thai dạng uống, thiazid, glucocorticoid, hormone tuyến giáp, chất giống giao cảm, hormone tăng trưởng và danazol. Các thuốc chẹn beta có thể che lấp các triệu chứng hạ đường huyết. Octreotide/lanreotide có thể cả làm tăng hay giảm nhu cầu insulin. Rượu có thể làm tăng hoặc làm giảm tác dụng hạ đường huyết của insulin.Phụ nữ có thai:NovoRapid® (Insulin aspart) có thể dùng cho phụ nữ có thai. Số liệu từ hai thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng cho thấy không có phản ứng phụ nào của Insulin aspart trên phụ nữ có thai và thai nhi/ trẻ sơ sinh khi so sánh với insulin người dạng hòa tan.Phụ nữ cho con bú:Không có hạn chế về điều trị bằng NovoRapid® trong thời gian cho con bú. Việc điều trị Insulin ở phụ nữ cho con bú không gây nguy cơ gì cho trẻ. Tuy nhiên có thể cần phải điều chỉnh liều NovoRapid® .Tác động trên khả năng lái xe và sử dụng máy móc:Khả năng tập trung và phản ứng của bệnh nhân có thể bị suy giảm do hậu quả của hạ đường huyết. Bệnh nhân nên được nhắc nhở để thận trọng tránh tình trạng hạ đường huyết trong khi lái xe. Tác dụng không mong muốn:Ít gặp:Rối loạn hệ miễn dịch: Mày đay, ban đỏ và phát ban. Rối loạn về mắt: Rối loạn khúc xạ, bệnh võng mạc do đái tháo đường. Rối loạn da và mô dưới da: Loạn dưỡng mỡ, quá mẫn cục bộ. Rối loạn chung và tình trạng tại chỗ tiêm: phù.Hiếm gặp:Rối loạn hệ thần kinh - Bệnh thần kinh ngoại biên.Rất hiếm gặp:Các phản ứng phản vệ, các phản ứng quá mẫn toàn thân có thể đe dọa tính mạng. Các đặc tính dược lực học: Nhóm dược lý trị liệu: Thuốc dùng trong bệnh đái tháo đường. Insulin analog dạng tiêm, tác dụng nhanh. Người lớn: Thử nghiệm lâm sàng trên những bệnh nhân đái tháo đường típ 1 sử dụng NovoRapid® đã cho thấy glucose huyết sau bữa ăn thấp hơn so với insulin người hòa tan. Người cao tuổi: Trong một thử nghiệm dược động học/ dược lực học, sự khác nhau tương đối về các đặc tính dược lực học giữa insulin aspart và insulin người dạng hòa tan trên bệnh nhân cao tuổi đái tháo đường típ 2 tương tự như kết quả đã thấy ở những người khỏe mạnh và bệnh nhân trẻ bị đái tháo đường. Trẻ em và thiếu niên: Khi cho trẻ em dùng NovoRapid® , kết quả cho thấy việc kiểm soát glucose huyết dài hạn tương tự với insulin người hòa tan. Phụ nữ mang thai: Một thử nghiệm lâm sàng so sánh độ an toàn và hiệu quả của insulin aspart với insulin người dạng hòa tan trong điều trị đái tháo đường típ 1 ở phụ nữ mang thai (322 thai phụ) cho thấy không có tác dụng phụ nào khi sử dụng insulin trên phụ nữ mang thai hay đối với sức khỏe của thai nhi/ trẻ sơ sinh. Cơ chế tác dụng: NovoRapid® có tác dụng khởi phát nhanh hơn, tác dụng ngắn hơn so với insulin người dạng hòa tan sau khi tiêm dưới da, khởi phát trong vòng 10-20 phút, hiệu quả tối đa đạt được khoảng từ 1 -3 giờ đồng hồ sau khi tiêm. Thời gian tác dụng từ 3 - 5 giờ. Quy cách đóng gói: Hộp 5 bút tiêm bơm sẵn thuốc x 3 ml. Tương kỵ: Những chất thêm vào NovoRapid® có thể gây thoái biến insulin aspart, như các thuốc chứa thiol hoặc sulphite. Thuốc này không được trộn với các thuốc khác, loại trừ insulin NPH và các dịch truyền. Hạn dùng: 30 tháng kể từ ngày sản xuất. Thận trọng đặc biệt khi bảo quản: Bảo quản trong tủ lạnh (2°C - 8°C). Để xa bộ phận làm lạnh. Không để đông lạnh. Đậy nắp NovoRapid® FlexPen® để tránh ánh sáng. NovoRapid® phải được bảo vệ tránh nguồn nhiệt và ánh sáng quá mức. Sau khi sử dụng lần đầu hoặc mang theo dự phòng: Không để trong tủ lạnh. Bảo quản dưới 30°C. Khi đang sử dụng, hạn dùng là 4 tuần. Sản xuất bởi: Novo Nordisk A/S, Novo Allé, DK-2880 Bagsværd, Denmark. NovoRapid® , FlexPen® , NovoFine® và NovoTwistTM là các nhãn hiệu của Novo Nordisk A/S, Denmark. THÔNG TIN KÊ TOA Tài liệu tham khảo: 1. Thông tin kê toa được phê duyệt bởi Cục Quản lý Dược Việt Nam Số giấy tiếp nhận hồ sơ đăng ký tài liệu thông tin thuốc của Cục QLD-Bộ Y Tế: 0083/14/QLD-TT, ngày 21 tháng 08 năm 2014 - Ngày in tài liệu:29/08/2014 Đường dùng: Tiêm dưới da, truyền insulin dưới da liên tục (CSII), truyền tĩnh mạch1 VPĐD Novo Nordisk Pharma Operations A/S Tầng 19, phòng 1908, toà nhà SunWah 115 Nguyễn Huệ, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh ĐT: +84 8 3915 3636 Fax: +84 8 3915 3636 Công ty phân phối: Vimedimex Bình Dương 18L 1-2 VSIP II, Đường Số 3, KCN Việt Nam - Singapore 2, Thủ Dầu Một, Bình Dương Thông tin chi tiết, xin liên hệ: Lầu 2, Tòa nhà E-Town 2 364 Cộng Hòa, Q. Tân Bình, TP.HCM ĐT: +84 3812 5848 Fax: +84 38125842 FlexPen® (insulin aspart) NovoRapid® FlexPen® Insulin analog tác dụng nhanh cho bệnh nhân Đái tháo đường Tài liệu thông tin cho cán bộ y tế
  30. 30. 30 1-NHỮNGVẤNĐỀCHUNGVỀBỆNHĐÁITHÁOĐƯỜNG Kết quả nhận thấy: Tỉ lệ tăng chu vi vòng bụng, tỉ số vòng bụng/vòng mông cao hơn. 64,5% trường hợp không có triệu chứng lâm sàng kinh điển. Ăn kém, mất ngủ kéo dài là 2 triệu chứng có tỉ lệ cao hơn. Số BN có tăng acid uric, cholesterol, triglycerid, GGT; giảm protein, albumin, HDL.c, hồng cầu, Hb, EF < 50%, tăng chỉ số khối lượng cơ thất trái (LVMI), ST chênh bệnh lý, dạng pS, bloc nhĩ - thất trên điện tim đều có tỉ lệ cao hơn. Từ khóa: Đái tháo đường typ 2, đái tháo đường typ 2 ở người cao tuổi. SUMMARY Clinical, paraclinical characteristics and complications in diabetic pa- tients first diagnosed at the age of sixty. The aims of this study are investigation about clinical, paraclinical characteristics and some complications in 62 first time diagnosed patients over 60 years of type 2 diabetes mellitus compared to 42 first time diagnosed patients below 60 years of type 2 diabetes mellitus included in control group. Results showed that: Patients with increased waist circumference, and ratio of waist circumference/hip high- er. 64.5% patients without classical clinical symptoms. Two signs have high percentage are poor appetite, lose sleep. Patients with high concentration of uric acid, cholesterol, triglyceride, GGT, decreasing concentration of protein, albumin, HDL-c, red blood cell, hemoglobin, EF <50%; increasing LVMI, ST in pathological el- evation, pS form, atrial - ventricular blockade in electrocardiogram have higher percentage than to in control subjects. Key words: type 2 diabetes mellitus, type 2 diabetes mellitus in old age. -- ~o0o~ -- ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ KIỂM SOÁT HbA1C TRONG ĐIỀU TRỊ LAO Ở BỆNH NHÂN LAO PHỔI KÈM THEO ĐÁI THÁO ĐƯỜNG-II TS. BS. Nguyễn Anh Quân Đặt vấn đề: Xét nghiệm HbA1C cho biết kết quả kiểm soát đường huyết. Nghiên cứu mối liên quan giữa hiệu quả kiểm soát ĐTĐ-II với kết quả điều trị lao, có 2 mục tiêu: 1.Nghiên cứu LS và CLS của bệnh nhân lao phổi có kèm theo bệnh ĐTĐ-II. 2.Nghiên cứu kết quả điều trị lao qua kiếm soát đường huyết bằng chỉ số HbA1c. Đối tượng: Là những bệnh nhân lao phổi có kèm theo bệnh đái tháo đường typ II gồm 89 người, nam 57; nữ 32 chủ yếu trên 55 tuổi chiếm 74,1% Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiền cứu. Theo dõi dọc. Mẫu thuận tiện. Nhóm 1:HbA1c <6,4% =36 người. Nhóm 2: HbA1c ≥ 6,5% =53 người. Kết quả: 1. Lâm sàng: Gầy yếu 55,5%; Khó thở 42,7%; HRM 38,2%; Triệu chứng ĐTĐ-II 33,7%. Thâm nhiễm lao 81,3%; H/c phế quản 53,9%. Cận lâm sàng: AFB(+) 89,9%; Tổn thương X.quang cả 2 phế trường chiếm 63% 2. Kết quả điều trị lao phổi giữa 2 nhóm: Nhóm I tỷ lệ khỏi 77,8%; Tổn thương X.quang 27,8%; Gầy yếu 8,4%; Khó thở 2,8%; HRM và triệu chứng ĐTĐ-II 0%. Nhóm II tỷ lệ khỏi 39,7%; Tổn thương X.quang 100%; Gầy yếu 94.4%; Khó thở 98,1%; HRM 66% và triệu chứng ĐTĐ-II 69,8%. Kết luận: 1.Bệnh nhân lao phổi có kèm theo ĐTĐ-II có bệnh cảnh lâm sàng nặng nề, nhiều AFB(+) và tổn thương X.quang cả 2 phổi hơn bệnh nhân lao bình thường. 2. Nhóm I cho kết quả điều trị lao phổi tốt hơn so với nhóm II và đạt yêu cầu của chương trình chống lao quốc gia
  31. 31. 31 ASSESSMENT OF THE ROLE OF THE HbA1C CONTROL IN TUBERCULOSIS TREATMENT FOR TB PATIENTS WITH TYPE II DIABETES Dr. Nguyen Anh Quan Technical University of Medicine and Pharmacy-Da Nang Background: The results of HbA1C tests indicate glycemic control. The correlation study was carried out between the effective control of type II Diabetes with TB treatment outcomes; there are two objectives: 1. Clinical and subclinical studies for tuberculosis patients having type II Diabetes. 2. Evaluating the TB treatment outcomes based on glycemic control with HbA1c value. Study population: Tuberculosis patients with type II diabetes include 89 patients, 57 male; 32 women primar- ily over age 55 (74.1%) Methods: The combination of retrospective, descriptive and prospective study; subscribe to vertical; conveni- ent sample. Group 1: HbA1c <6.4% with 36 patients. Group 2: HbA1c ≥ 6.5% with 53 patients Results: 1. Clinical examination results: emaciation (55.5%), shortness of breath (42.7%), coughing up blood (38.2%), symptoms of type II diabetes (33.7%), TB infectious syndrome (81.3%), and bronchial syndrome (53.9%). Subclinical results: AFB (+) (89.9%) and Chest X.ray with lesions in both left and right lungs (63%) 2. Tuberculosis treatment outcomes between the 2 groups: Group I have 77.8% recover rate, 27.8% X.ray injury, 8.4% emaciation, 2.8% shortness of breath, coughing up blood and symptoms of type II diabetes 0%. Group II have 39.7% recover rate, 100% X.ray injury, 94.4% emaciation, 98.1% shortness of breath, 66% coughing up blood and 69.8% symptoms of type II diabetes. Conclusions: 1. The TB patients with type II diabetes have severe clinical symptoms, higher AFB (+) and more le- sions in both left and right lungs than the TB patients without type II diabetes. 2. Group I showed the better outcomes of tuberculosis treatment than group II and that meets the re- quirements of national TB control programs. -- ~o0o~ -- NGHIÊN CỨU HÌNH ẢNH NỘI SOI, TỶ LỆ NHIỄM HELICOBACTER PYLORI Ở DẠ DÀY TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 BSCK II. Mai Thị Minh Hậu Bệnh viện 19/8 TÓM TẮT Nghiên cứu 120 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 điều trị nội trú tại khoa Nội tiết Bệnh viện 103 về đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi, tỷ lệ nhiễm Helicobacter Pylori ở dạ dày trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2. Kết quả nghiên cứu cho thấy: - Triệu chứng đau bụng 62,5%, ợ hơi 56,7%, buồn nôn 45,8%, ợ chua 43,3%, táo bón 26,7%, ỉa lỏng 15,0%. - Tỷ lệ viêm phù nề xung huyết cao nhất 42,5%, viêm trợt phẳng 34,2%, viêm trợt lồi 22,5%, viêm teo 32,5%, 11,7% bệnh nhân bị loét dạ dày, không gặp ung thư dạ dày. - Tỷ lệ nhiễm Helicobacter Pylori là 38,3%, trong đó mức độ nặng là 4,2%, mức độ vừa là 8,3%, mức độ nhẹ là 25,8%. - Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ các dạng viêm qua nội soi ở dạ dày với các mức kiểm soát HbA1c, BMI, thời gian phát hiện đái tháo đường. Tỷ lệ và mức độ nhiễm Helicobacter Pylori cao hơn ở bệnh nhân có kiểm soát HbA1c kém. Từ khóa: viêm teo, đái tháo đường, Helicobacter Pylori. 1-NHỮNGVẤNĐỀCHUNGVỀBỆNHĐÁITHÁOĐƯỜNG
  32. 32. 32 SUMMARY ENDOSCOPIC STUDY OF HELICOBACTER PYLORI INFECTION IN TYPE 2 DIABETIC PATIENTS Studied on 120 type 2 diabetic patients in Department of Endocrinology Hospital 103. Aim of the study: To identify the prevalence of clinical symptoms, endoscopic features, and the prevalence of helicobacter pylori infection in type 2 diabetic patients. Method: cross-sectional study including 120 type 2 diabetic inpatients in the Department of Endocrinology of The 103 Hospital. Results: abdominal pain in 62.5%, belching in 56.7%, nausea in 45.8%, heartburn in 43.3%, constipation in 26.7%, diarrhea in 15.0%. - Gastroscopic images: erythemateous edema gastritis (42,5%), flat erosion, in 11,7%, raised erosion in 22.5%, and atrophic gastritis in 32,5%, gastric ulcer in 11.7% and no gastric cancer. - The rate of helicobacter pylori infection was 38.3% (in which 4.2% severe infection, 8.3% moderate infec- tion and 25.8% mild infection). - There are significant differences between the proportion of endoscopic inflammations in the stomach and HbA1c levels control, BMI, duration of diabetes (p<0,05). The rate and level of Helicobacter pylori infection were higher in diabetic patients with poor HbA1c control. Key words: atrophy, diabetes, Helicobacter Pylori. -- ~o0o~ -- KIỂM SOÁT GLUCOSE MÁU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ Ở BỆNH NHÂN NGOẠI TRÚ THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TẠI KHOA KHÁM BỆNH BỆNH VIỆN BẠCH MAI ThS. Vũ Thùy Thanh, ThS. Nguyễn Trang Nhung, ThS. Nguyễn Thị Hồng Vân, TS. Viên Văn Đoan Khoa Khám bệnh bệnh viện Bạch Mai Chương trình quản lý bệnh nhân Đái Tháo Đường (ĐTĐ) điều trị ngoại trú có vai trò quan trọng đối với kiểm soát glucose máu. Mục tiêu: Nhận xét tình trạng kiểm soát glucose máu và một số yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân tham gia chương trình quản lý bệnh ĐTĐ tại khoa Khám Bệnh bệnh viện Bạch Mai. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 1160 bệnh nhân ĐTĐ tuổi từ 19 đến 92 tham gia chương trình quản lý Đái Tháo Đường tại khoa Khám Bệnh bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1/2014 đến tháng 5/2014. Các tiêu chuẩn đánh giá theo khuyến cáo của Hội Nội tiết – ĐTĐ Việt Nam năm 2009. Kết quả: Có 61% bệnh nhân đạt mục tiêu kiểm soát glucose máu, mức độ kiểm soát glucose máu không tốt tăng dần theo thời gian mắc bệnh. 86,3% bệnh nhân tăng huyết áp (THA) trong đó 76,2% được kiểm soát huyết áp tốt. 76,6% bệnh nhân có rối loạn lipid máu, tăng Triglycerid chiếm tỷ lệ cao nhất 61,8% .Có 9,36% bệnh nhân suy thận các mức độ. Về điều trị tất cả các bệnh nhân được tư vấn thực hiện chế độ ăn và luyện tập, 80% bệnh nhân thực hiện tốt chế độ ăn, luyện tập thường xuyên, còn lại là các bệnh nhân già yếu, hạn chế vận động do biến chứng. 100% bệnh nhân điều trị thuốc đều đặn. Có 50,1% bệnh nhân chỉ uống thuốc viên để kiếm soát glucose máu; 22,9% bệnh nhân chỉ tiêm insulin; 27,0% bệnh nhân vừa tiêm insulin vừa uống thuốc viên. Kết luận: Bước đầu thấy hiệu quả lâm sàng tương đối tốt của việc quản lý điều trị ngoại trú cho bệnh nhân Đái Tháo Đường. Từ khóa: Quản lý đái tháo đường, kiểm soát glucose máu 1-NHỮNGVẤNĐỀCHUNGVỀBỆNHĐÁITHÁOĐƯỜNG
  33. 33. 33 1-NHỮNGVẤNĐỀCHUNGVỀBỆNHĐÁITHÁOĐƯỜNG Summary GLYCEMIC CONTROLAND ITS RISK FACTORS OF OUTPATIENTS PARTICIPATING IN DIABETES MANAGEMENT PROGRAM AT OUTPATIENT DEPARTMENT AT BACH MAI HOSPITAL Vu Thuy Thanh, Nguyen Trang Nhung, Nguyen Thi Hong Van, Vien Van Doan Outpatient Deparment, Bach Mai hospital Background: The program for management of outpatients with diabetes plays an important role in improving the glycemic control. Aims: To describe the situation of controlling glycemic and its risk factors in patients participating in diabetes management program at Bach Mai Hospital. Material and methods: a cross – sectional study in 1160 diabetes outpatients aged 19-92 at Bach Mai hospital from 1/2014 to 5/2014. Results: The results indicate that 61% patients had achieved target blood glucose control. The longer duration of disease was, the worse glycemic control level. 86.3% patients had hypertension, however 76.2% patients with good blood pressure control. 76.6% patients had dyslipidemia, the rate of elevated triglycerid was highest 61,8%. Only 9.36% patients had renal impairment levels. All patients were received consultancy about diet and exercise, 80% patients performed better diet and regular exercises, the remaining elderly patients, limited movement due to complications. 100% patients took medicine regularly. About 50.1% of patients treated only pills to control glucose, 22.9% insulin injections, 27,0% of patients had boths insulin and pills. Conclusions: The first step shows relatively clinical effectiveness of the management better outpatients treat- ment for people with diabetes. Key word: Diabetes management program, glycemic control. -- ~o0o~ -- MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIỂM SOÁT GLUCOSE MÁU Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TẠI KHOA NỘI TIẾT - BỆNH VIỆN VIỆT TIỆP HẢI PHÒNG NĂM 2011 ThS. BS. Nguyễn Thị Thùy Ngân, PGS. TS. Đỗ Thị Tính Khoa Nội tiết - Bệnh Viện Việt Tiệp Hải Phòng TÓM TẮT Nghiên cứu 138 bệnh nhân đái tháo đường tại khoa nội 3 - Bệnh viện việt Tiệp từ 03-08/2011 bằng phương pháp mô tả cắt ngang chúng tôi thấy: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 61,1 ± 12,1; phần lớn BN có độ tuổi trên 50 và nhóm tuổi ≥ 70 có tỷ lệ cao nhất 31,9%. Tỷ lệ nam và nữ là ngang nhau. BN không thực hiện chế độ ăn và tập có nguy cơ kiểm soát GMLĐ và HbA1c không đạt cao gấp 3,94 và 2,89 lần (p<0,05). BN không theo dõi định kỳ tại cơ sở y tế có nguy cơ kiểm soát GMLĐ và HbA1c không đạt cao gấp 7,21 và 4,69 lần (p<0,01).100% BN không tuân thủ điều trị thuốc có tỷ lệ kiểm soát GMLĐ ở mức không đạt, 13/14 BN có HbA1c ở mức không đạt. Không tuân thủ điều trị thuốc có nguy cơ kiểm soát HbA1c k không đạt cao gấp 7,04 lần (p<0,05). Không có bảo hiểm y tế có nguy cơ kiểm soát HbA1c k không đạt cao gấp 4,71 lần. Lao động trực tiếp có nguy cơ kiểm soát HbA1c không đạt cao gấp 3,43 lần lao động gián tiếp và 4,04 lần người nghỉ hưu. Điều trị bằng bác sĩ không chuyên khoa có nguy cơ kiểm soát HbA1c không đạt cao gấp 2,5lần. ABSTRACT Tile: Relevant factors to blood glucose control in diabetes patients hos- pitalized in Department of Endocrinology – Viet Czech Hospital Hai Phong in 2011. Authors: Nguyen Thi Thuy Ngan, Do Thi Tinh. Department of Endocrinology – Viet Tiep Hospital – Hai Phong – Viet Nam
  34. 34. 34 Background: Good control of blood glucose and of other relevant factors will improve and extend the qual- ity of life of diabetics, limiting complications in target organs. However, in practice there are many factors that make blood glucose control more difficult. In Hai Phong city, have not been many studies evaluating the factors that affect blood sugar condition. Therefore, we carried out subject to the’’ commented influence of several factors (diet and exercise, blood glucose monitoring, using of antihyperglycemic, etc.) to the control of blood glucose in patients with diabetes hospitalized in Department of endocrinology of Viet- Czech Friendship Hospital in 2011’’. Methods: In a cross-sectional study was conducted in 2011, 138 patients hospitalized for diabetes in 2011. Results: Patients who did not adhere to eating and exercise plan recommended are 3.94 and 2.89 times more at risk of having poor control of fasting glucose and A1c than patients who complied with that plan (p<0,05). Pa- tients who had not been controlled regularly at health facilities are 7.21 and 4.69 times more at risk of having poor control of fasting glucose and A1c than the other patients (p<0,01). Patients who did not adhere to drug treatment are 7.07 times more at risk of having poor control of fasting glucose and A1c than the other patients. Patients without health insurance are 4.71 times more at risk of having poor control of A1c than patients with health care insurance. Direct workers are 3.43 and 4.04 times more at risk having of poor control of A1cthan the indirect workers and than the retirees. Patients treated by non - specialist doctors are 2.5 times at risk of poor control of A1cthan the others. Conclusion: Non –compliance with the eating and exercise plan and with drug treatment make blood glucose control worse. Irregular control at health facilities and treating by non – specialist doctor make blood glucose monitoring less effective. Without health insurance and manual work make blood glucose control worse. -- ~o0o~ -- ĐÁNH GIÁ KIỂM SOÁT MỘT SỐ CHỈ SỐ LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT NGHỆ AN BS. Lê Thị Cầm và Cs Bv Nội tiết Nghệ An TÓM TẮT Kiểm soát tốt glucose máu và các chỉ số khác sẽ làm chậm tiến triển biến chứng, cải thiện và kéo dài chất lượng cuộc sống của người bệnh. Nghiên cứu tiến hành trên 150 bệnh nhân điều trị ngoại trú 6 tháng tại Bệnh viện nội tiết Nghệ An cho thấy: Glucose máu trung bình giảm có từ 9.6 ± 2.3 xuống 8.3 ± 1.9. HbA1c trung bình giảm từ 7.8 ± 1.6 xuống 7.5 ± 1.3. HATT trung bình giảm từ 135.5 ± 22.7 xuống 129.4 ± 15.1 với p < 0.05, HATTr trung bình giảm không có ý nghĩa thống kê. BMI giảm từ 23.6 ± 3.58 xuống 22.3 ± 3.45 với p > 0.05. Cholesterol TP, Triglycerid, LDl-c giảm dần, giá trị trung bình HDL-c tăng dần không có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ kiểm soát tốt glucose máu, HbA1c, HA, Cholesterol TP tăng dần, tỷ lệ kiểm soát kém các chỉ số giảm dần có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ kiểm soát tốt BMI, Triglycerid, LDl-c tăng dần, tỷ lệ kiểm soát kém giảm dần không có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ bệnh nhân chấp hành điều trị tốt là 57.4%, tỷ lệ chấp hành điều trị chưa tốt 42.6%. Nhóm chấp hành điều trị tốt có giá trị trung bình các chỉ số Glucose, HbA1c, huyết áp tâm thu, BMI, Cholesterol TP, Triglycerid thấp hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0.05) so với các giá trị tương ứng ở nhóm chấp hành chưa tốt chế độ điều trị. ABSTRACT Good control of blood glucose and other indicators will slow the progression of complications , improve qual- ity and extend the life of the patient . Research conducted on 150 patients 6 months of outpatient treatment in Nghe An endocrine Hospital showed that average blood glucose decreased from 9.6 ± 2.3 to 8.3 ± 1.9. Mean HbA 1c decreased from 7.8 ± 1.6 to 7.5 ± 1.3 . HATT average fell from 135.5 ± 22.7 to 129.4 ± 15.1, p < 0.05 HATTr average reduction without statistical significance. BMI decreased from 23.6 ± 3.58 to 22.3 ± 3.45, p > 0.05. City cholesterol, triglycerides, LDL-c decrease, the average value increases HDL -c has no statistical 1-NHỮNGVẤNĐỀCHUNGVỀBỆNHĐÁITHÁOĐƯỜNG
  35. 35. 35 1-NHỮNGVẤNĐỀCHUNGVỀBỆNHĐÁITHÁOĐƯỜNG significance. The percentage of good control of blood glucose, HbA1c, BP, Cholesterol TP increases, the rate of poor control indices declining significantly. The rate -controlled BMI, triglycerides, LDL-c increased, the proportion of poor controls have not reduced significantly. The percentage of patients with good treatment observance is 57.4 %, the rate of treatment observance of 42.6 % is not good. Group Executive therapeutical average value indices of glucose, HbA1c, systolic blood pressure, BMI, cholesterol TP, lower triglycerides significantly (p<0.05) compared with the corresponding values in group Executive regimen is not good . -- ~o0o~ -- TỈ LỆ BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐẠT MỤC TIÊU HbA1c TẠI MỘT PHÒNG KHÁM CHUYÊN KHOA ĐÁI THÁO ĐƯỜNG Ở TP HỒ CHÍ MINH ThS. Hứa Thành Nhân, BV Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ PGS. TS. Nguyễn Thy Khuê, Đại Học Y Dược TP.HCM TÓM TẮT Mục tiêu: Xác định tỉ lệ đạt muc tiêu HbA1c<7% và các các yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang, tuyển chọn 600 bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại trung tâm Medic thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả: Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 62 tuổi, trong đó nữ chiếm 76,8%. Thời gian bị bệnh đái tháo đường trung bình là 10 năm. Tỉ lệ đạt mục tiêu HbA1c<7% là 33,7%, đường huyết đói <130mg% là 40,5%. So với bệnh nhân kiểm soát đường huyết kém (HbA1c≥7%), bệnh nhân kiểm soát tốt (HbA1c<7%) có tuổi đời trẻ hơn (p=0,001), thời gian mắc bệnh đái tháo đường ngắn hơn (p<0,001), tỉ số eo/hông thấp hơn (p<0,001), trình độ học vấn cao hơn (p=0.023), hoạt động thể lực nhiều hơn và tuân thủ chế độ ăn tốt hơn (p<0,001). Bệnh nhân phải dùng insulin hoặc sử dụng nhiều loại thuốc viên hạ đường huyết thường kiểm soát đường huyết kém hơn, có giá trị HbA1c cao hơn (P<0,001). Kết luân: Gần 2/3 bệnh nhân đái tháo đường trong nghiên cứu này có HbA1c≥7%. Tỉ lệ này có khuynh hướng gặp nhiều hơn ở bệnh nhân đái tháo đường đã lâu và không tuân thủ những thói quen tốt về lối sống. ABSTRACT PERCENTAGE OF TYPE 2 DIABETIC PATIENTS ACHIEVING HbA1c TARGET AT A DIABETIC CLINIC IN HO CHI MINH CITY Hua Thanh Nhan, Nguyen Thy Khue University of Medicine and Pharmacy Ho Chi Minh city Objective: The objective of this study was to determine the percentage of type 2 diabetic patients achieving HbA1c less than 7% and its associated factors in a diabetic clinic. Methods: This is a cross-sectional study, 600 type 2 diabetic outpatients from a diabetic clinic (Medic Center) in Ho Chi Minh City, were enrolled in the study. Results: Mean age of the participants (n=600) was 62 years old, 76,8 % were female, mean duration of diabetes was 10 years. 202 patients (33,7%) achieved HbA1c target of less than 7%, 243 patients (40,5%) had fasting plasma glucose less than 130mg/dL. Compared with patients who had poor glycemic control (HbA1c≥7%), those with good control (HbA1c<7%) were younger (P = 0.001), had shorter duration of DM (p < 0.001), lower waist-hip ratio(p < 0.001), higher level of education (p = 0.023), more physical activity (p<0.001) and good adherence to diet (p<0.001). Patients who used insulin or multiple oral antidiabetic drugs had poorer glycemic control (p<0.001). Conclusion: Nearly 2/3 of type 2 diabetic patients in this study had HbA1c ≥7%, this tends to be more preva- lent in chronic diabetes with poor addherence to good lifestyle habits.

×