Successfully reported this slideshow.
We use your LinkedIn profile and activity data to personalize ads and to show you more relevant ads. You can change your ad preferences anytime.
1 of 81

Nghiên cứu kiến thức và thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại yên bái năm 2012

13

Share

Download to read offline

Nghiên cứu kiến thức và thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại yên bái năm 2012

Related Books

Free with a 30 day trial from Scribd

See all

Related Audiobooks

Free with a 30 day trial from Scribd

See all

Nghiên cứu kiến thức và thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại yên bái năm 2012

  1. 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Những năm gần đây, sức khỏe sinh sản trở thành một trong các lĩnh vực quan trọng được Đảng, Nhà nước và nhiều tổ chức quan tâm. Chương trình sức khỏe sinh sản (SKSS) của Liên hiệp quốc họp tại Cairo – Ai Cập (1994) xác định SKSS gồm 10 nội dung cơ bản, trong đó có chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước, trong và sau sinh và trẻ sơ sinh là nội dung quan trọng nhất [26]. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra khuyến cáo để có những đứa trẻ khỏe mạnh, thông minh thì các bà mẹ phải được chăm sóc sức khỏe liên tục từ khi có ý định mang thai đến khi đứa trẻ chào đời. Sức khỏe, bệnh tật của bà mẹ trong thời kỳ mang thai, thời kỳ cho con bú đều ảnh hưởng đến sự phát triển và sức khỏe của đứa trẻ. Trên thế giới, mỗi năm có khoảng 530.000 phụ nữ bị tử vong trong quá trình mang thai và sinh nở, hơn 3 triệu trẻ sơ sinh chết non, hàng triệu trẻ sơ sinh tử vong trong ngày đầu hoặc tuần đầu sau sinh, 640 triệu phụ nữ ốm yếu do liên quan đến thai nghén, 64 triệu phụ nữ gặp biến chứng khi sinh [1], [16]. Theo Qũy Nhi đồng Liên Hiệp Quốc ở các nước đang phát triển, nguy cơ tử vong do các biến chứng liên quan đến thai nghén và sinh đẻ là 1/76 so với 1/8.000 ở các nước công nghiệp [25]. Tử vong ở các nước đang phát triển xảy ra ở giai đoạn trước sinh chiếm 23,9%; giai đoạn trong sinh là 15,5% và giai đoạn sau sinh là 60,6% [31]. Tại Việt Nam, hầu hết tử vong mẹ xảy ra ở giai đoạn sau sinh, hơn 80 – 83% tử vong trong ngày đầu tiên sau đẻ, còn lại chết trong tuần đầu tiên [28]. Hàng năm, hàng triệu thai nhi và trẻ sơ sinh chết, nguyên nhân chủ yếu do sức khỏe của bà mẹ kém hay biến chứng sau sinh [16]. Tuy nhiên với những cố gắng, nỗ lực trong nhiều năm, ngành y tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công tác chăm sóc SKSS. Việt Nam đã giảm thành công tỷ suất chết ở trẻ dưới 1 tuổi từ 44,4‰ (1990) xuống còn 16‰ (2009) và 15,5‰ 1
  2. 2. (2011) [15], [50]. Mặc dù vậy, tỷ lệ tử vong mẹ còn cao 69/100.000 trẻ đẻ sống [15], do sự yếu kém của hệ thống cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và sự thiếu hiểu biết của người dân trong cộng đồng, đặc biệt ở những vùng khó khăn. Có tới 75 – 80% trường hợp tử vong mẹ do các biến chứng và bệnh nhiễm trùng xảy ra trong quá trình mang thai [31]. Hầu hết các trường hợp tử vong mẹ đều có thể tránh được bằng cách chăm sóc sức khỏe mẹ tốt hơn, đặc biệt trong thời kỳ mang thai, sinh con và sau sinh [25]. Yên Bái là một tỉnh thuộc vùng Trung du và miền núi phía bắc Việt Nam, là một tỉnh khó khăn, địa hình phức tạp, tập trung nhiều dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp, cơ sở vật chất thiếu thốn, … Theo tổng cục thống kê (2011) Yên Bái có 30 dân tộc sinh sống rải rác khắp địa bàn tỉnh, với tổng dân số 758.600 người, trong đó có 378.800 nữ, toàn tỉnh có 214 cơ sở y tế với 534 bác sĩ và 400 nữ hộ sinh, tổng tỷ suất sinh của Yên Bái là 2,26 con/phụ nữ, cao hơn so với cả nước (1,99). Tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi là 26,1‰ cao hơn nhiều so với cả nước là 15,5 ‰ [49], [8]. Câu hỏi đặt ra là: Với điều kiện như vậy thì kiến thức và thực hành chăm sóc của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại Yên Bái hiện nay như thế nào? Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu kiến thức và thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại Yên Bái năm 2012” với 2 mục tiêu: 1. Mô tả kiến thức chăm sóc trước, trong và sau sinh của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại Yên Bái năm 2012. 2. Mô tả thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại Yên Bái năm 2012. 2
  3. 3. Chương 1 TỔNG QUAN Sức khỏe sinh sản là một phần rất quan trọng của sức khỏe, gắn với suốt cuộc đời của mỗi con người, từ lúc bào thai đến khi tuổi già. Sức khỏe sinh sản quan tâm đến các vấn đề của bộ máy sinh sản nam, nữ ở mọi lứa tuổi, đặc biệt chú trọng đến tuổi vị thành niên và độ tuổi sinh đẻ (15 – 49 tuổi). Hội nghị quốc tế về Dân số và phát triển họp tại Cairo – Ai Cập năm 1994 đã đưa ra định nghĩa về sức khỏe sinh sản: “Sức khỏe sinh sản là một trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội trong tất cả mọi khía cạnh liên quan tới hệ thống, chức năng và quá trình sinh sản chứ không phải là không có bệnh tật hay tổn thương hệ thống sinh sản” [26]. Điều này cho thấy tất cả mọi người, kể cả nam và nữ, đều có quyền được nhận thông tin và tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, các biện pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn và hiệu quả. Đặc biệt, đối với phụ nữ trong quá trình mang thai và sinh đẻ cần chăm sóc sức khỏe kỹ lưỡng để đảm bảo cho đứa trẻ được sinh ra một cách khỏe mạnh. Trong mỗi lần mang thai và sinh nở, người phụ nữ phải đối mặt với nhiều nguy cơ liên quan tới những tai biến đột ngột, nguy hiểm và khó lường trước. Những tai biến này có thể dẫn tới thương tật thậm chí tử vong cho bà mẹ và thai nhi. Thai nghén với người phụ nữ là một hiện tượng sinh lý mang nhiều tính chất đặc biệt rất dễ chuyển thành bệnh lý, vì thế chăm sóc bà mẹ trong quá trình thai nghén là một công việc quan trọng. Quá trình này, theo quy định của Hướng dẫn chuẩn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản [4] gồm 3 thời kỳ: thời kỳ trước sinh, thời kỳ trong sinh và thời kỳ sau sinh. 3
  4. 4. 1.1. Kiến thức về chăm sóc trước sinh, trong và sau sinh của các bà mẹ 1.1.1. Kiến thức về chăm sóc trước sinh 1.1.1.1. Nội dung chăm sóc trước sinh Chăm sóc bà mẹ khi có thai (chăm sóc trước sinh): là những chăm sóc sản khoa cho người phụ nữ tính từ thời điểm có thai đến trước khi đẻ nhằm đảm bảo cho quá trình mang thai được an toàn, sinh con khỏe mạnh. Nội dung của chăm sóc trước sinh bao gồm: khám thai đầy đủ, tiêm phòng uốn ván, bổ sung viên sắt. Ngoài ra còn bao gồm giáo dục, điều trị những tình trạng bệnh lý hoặc biến chứng xảy ra trong thời kỳ có thai, hướng dẫn và xác định nơi sinh, giải thích những biến chứng có thể xảy ra, địa điểm khám và xử trí để đảm bảo an toàn, chế độ dinh dưỡng, chế độ lao động và nghỉ ngơi, ... Chăm sóc phụ nữ trong thời kỳ mang thai có tầm quan trọng to lớn và cần thiết để phát hiện kịp thời các nguy cơ như thể trạng mẹ không đảm bảo, các bệnh lý của người mẹ có sẵn cũng như mới xuất hiện do thai nghén ví dụ thiếu máu, nhiễm độc thai nghén [19]. Chăm sóc thời kỳ này tốt sẽ giảm thiểu được tử vong và bệnh tật cho cả mẹ và con. Thời kỳ mang thai là thời kỳ rất quan trọng, không những có ảnh hưởng lớn sức khỏe bản thân bà mẹ mà còn có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của thai nhi. Vì vậy bà mẹ cần nắm đầy đủ những kiến thức cơ bản để tự chăm sóc sức khỏe bản thân cũng như chăm sóc thai nhi. Bà mẹ cần có những hiểu biết cơ bản về các kiến thức khi mang thai như số lần khám thai, những việc cần thực hiện khi mang thai, chế độ dinh dưỡng, chế độ lao động và nghỉ ngơi, … Trong thời kỳ mang thai các bà mẹ cần có kiến thưc về số lần khám thai, được tiêm vaccine phòng uốn ván, uống bổ sung viên sắt phòng thiếu máu. Khi mang thai tâm sinh lý người phụ nữ cũng có nhiều thay đổi, các bà 4
  5. 5. mẹ cần nhận biết được những dấu hiệu bất thường để có hướng xử trí đúng đắn và kịp thời tránh những hậu quả không mong muốn. 5
  6. 6. 1.1.1.2. Tình hình chăm sóc trước sinh trên thế giới Mỗi năm có khoảng 550.000 trẻ sơ sinh chết vì uốn ván mỗi năm, trong đó có 220.000 trường hợp ở khu vực Đông Nam Á chiếm 37% uốn ván trên thế giới [54]. Nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh còn thấp là do các dịch vụ đó chưa được quan tâm nhấn mạnh và chịu ảnh hưởng của trình độ văn hóa, điều kiện kinh tế của bà mẹ [33]. Theo kết quả của một số nghiên cứu thì các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh bao gồm: trình độ học vấn của người mẹ và chồng, tình trạng hôn nhân, chi phí y tế, thu nhập gia đình, văn hóa và phong tục tập quán, khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế … [34], [11]. Theo Caro Bellamy, giám đốc điều hành Qũy Nhi đồng Liên Hiệp Quốc, một trong những nguyên nhân làm cho phụ nữ mang thai ít nhận được các dịch vụ chăm sóc trước sinh là do những ưu điểm của nó chưa được nhấn mạnh và chịu ảnh hưởng của trình độ văn hóa cũng như điều kiện kinh tế của bà mẹ [33]. Một cuộc điều tra ở Ấn Độ cho thấy khoảng 60% phụ nữ cảm thấy chăm sóc thai nghén là không cần thiết [43]. 1.1.1.3. Tình hình chăm sóc trước sinh tại Việt Nam Theo Tổng cục thống kê năm 2009, Việt Nam là nước có số dân lớn thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 13 trong số những nước đông dân nhất thế giới. Kết cấu dân số trẻ với tỷ lệ tăng dân số khoảng 1,06 % mỗi năm; tỷ suất sinh thô 17,6 trẻ đẻ sống/1000 dân; số con trung bình của một phụ nữ là 2,03 con [15]. Điều đó có nghĩa là số phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ chiếm tỷ lệ cao, nhưng phần lớn trong số đó sống ở nông thôn, miền núi với những khó khăn trong đời sống cũng như trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế. Trong bối cảnh như vậy, Nhà nước ta đã đặt ra nhiệm vụ chăm lo, bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em là một trong những ưu tiên hàng đầu. Với chủ trương đó, 6
  7. 7. công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em đã được triển khai rộng khắp trong cả nước. Theo nhiều kết quả nghiên cứu tỷ lệ khám thai của các bà mẹ vẫn còn thấp, nguyên nhân là do nhận thức về sự cần thiết phải đi khám thai của các bà mẹ còn kém, điều kiện kinh tế của mỗi gia đình, khoảng cách từ nhà tới cơ sở y tế khá xa, không có đủ tiền hoặc quá bận không có thời gian [38], [46], [40], ... Báo cáo tổng quan các nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe sinh sản tại Việt Nam giai đoạn 2000 – 2005 của Qũy Dân số Liên Hiệp Quốc có khoảng 1/10 – 1/3 số phụ nữ không đi khám thai khi mang thai, số phụ nữ khám thai ít nhất 3 lần thay đổi từ 1/5 – 1/3 phụ thuộc tôn giáo và nơi ở của phụ nữ. Tính bình quân, số lần khám thai trung bình của một phụ nữ khi mang thai là 2,7 lần ở khu vực miền núi và 3,7 lần ở khu vực đồng bằng . Nghề nghiệp của các bà mẹ cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến tỷ lệ khám thai đầy đủ của các bà mẹ. Tỷ lệ phụ nữ làm nghề nông khám thai đủ 3 lần thấp hơn so với các phụ nữ làm nghề khác. Một nghiên cứu khác tại Huế cho biết 2,1% bà mẹ không đi khám thai lần nào. Tỷ lệ các bà mẹ người dân tộc Tà Oi khám thai đủ 3 lần thấp hơn các nhóm bà mẹ dân tộc khác [42]. Trong khi đó tại một số khu vực khác trong nước như Thanh Hóa, tỷ lệ các bà mẹ không khám thai lần nào tại Nhũ Thanh và Ngọc Lặc tương ứng 2,9% và 1,4% [40]; Vĩnh Long 2,5% [46], … Trình độ văn hóa, thu nhập kinh tế và kiến thức của các bà mẹ về chăm sóc trước sinh có ảnh hưởng rõ rệt đến việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc trước sinh (khám thai, tiêm phòng uốn ván, uống viên sắt) [13]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Tú tại Bình Định năm 2009 đã chỉ ra một số lý do khiến các bà mẹ không đi khám thai như: không biết thời điểm mang thai, nơi ở quá xa trạm y tế, giao thông khó khăn, bận rộn với mùa vụ và con cái, ỷ lại trông chờ sự mời gọi, nhắc nhở của y tế thôn, nhận thức chưa đúng về việc chăm sóc thai sản, có thai nhưng chưa kết hôn … [11]. 7
  8. 8. Về tiêm phòng vaccine: Báo cáo tổng quan các nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe sinh sản tại Việt Nam giai đoạn 2000 - 2005 của Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc thì khoảng 1/2 đến 2/3 thai phụ ở các vùng miền núi và vùng xa không được tiêm bất kỳ mũi vacxin phòng uốn ván nào [22]. Tỷ lệ các bà mẹ được tiêm đủ 2 mũi uốn ván cũng khác nhau giữa các vùng miền và dân tộc, tỷ lệ này tại Huế là 93,9% [42]; Nhũ Thanh, Ngọc Lặc (Thanh Hóa) tương ứng 78,9% và 81,9% [40]; Thái Nguyên 86,6% [41], … Tỷ lệ tiêm phòng vaccine cũng phụ thuộc nhiều vào các yếu tố: nhận thức, chất lượng dịch vụ y tế, trình độ văn hóa, thu nhập kinh tế, … Trên thực tế các bà mẹ dân tộc sống ở vùng cao việc đi đến các cơ sở y tế rất khó khăn, phương tiện chủ yếu là đi bộ, mất nhiều thời gian đi lại, thiếu thông tin về lịch tiêm chủng, mạng lưới y tế thôn bản vừa mỏng và yếu. Nguyên nhân khác là do đa số các bà mẹ không biết rõ mục đích của việc tiêm phòng vaccine phòng uốn ván nên không chủ động, tự giác đi tiêm phòng [11]. 1.1.2. Kiến thức về chăm sóc trong sinh 1.1.2.1. Nội dung của chăm sóc trong sinh Chuyển dạ là quá trình từ khi có dấu hiệu chuyển dạ (ra nhầy hồng, đau bụng, ra nước ối) đến khi thai và rau thai được đưa ra khỏi đường sinh dục của người mẹ. Quá trình chuyển dạ cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ hay những biến chứng nguy hiểm có ảnh hưởng đến sức khỏe của bà mẹ và thai nhi. Vì vậy, bà mẹ cần được cung cấp những kiến thức về những điều có thể xảy ra trong quá trình chuyển dạ. Một cuộc chuyển dạ đẻ trung bình kéo dài 12 giờ. Có rất nhiều nguy cơ cho cả mẹ và trẻ được sinh trong khi chuyển dạ. Bên cạnh đó vẫn tồn tại những nguy cơ do bệnh có sẵn trong quá trình mang thai. Những dấu hiệu như chuyển dạ kéo dài mà chưa đẻ (trển 12 giờ), nhiễm khuẩn ối (nước ối xanh, nâu, vàng bẩn), ra máu âm đạo nhiều, sốt cao, ngôi thai bất thường, co giật … Đó là những dấu hiệu nguy hiểm trong thời kỳ 8
  9. 9. chuyển dạ cần được phát hiện và xử trí kịp thời để tránh những rủi ro không mong muốn cho thai phụ và thai nhi [20]. Tử vong mẹ trong thời kỳ này phần lớn do các tai biến sản khoa: băng huyết, nhiễm trùng, đặc biệt nguy hiểm là uốn ván, nhiễm trùng nước ối, vỡ tử cung, sản giật, … [26]. Tất cả những dấu hiệu trên đều có thể xảy ra trong quá trình chuyển dạ của người mẹ. Vì vậy, người mẹ cần chuẩn bị tâm lý và phải được trang bị đầy đủ kiến thức về chuyển dạ nhằm giảm thiểu những biến chứng không đáng có. 1.1.2.2. Tình hình chăm sóc trong sinh trên thế giới Quá trình chuyển dạ là một quá trình nguy hiểm có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe thậm chí tính mạng của người phụ nữ. Nghiên cứu ở Nigieria cho thấy nguy cơ phụ nữ bị chết do biến chứng trong thời gian mang thai hoặc khi sinh là 1/7, ở Ailen là 1/48.000. Ngoài ra, tỷ lệ tử vong mẹ cao ở các vùng nông thôn, vùng nghèo và cộng đồng có học vấn thấp. Tại ngoại ô Sahara Châu Phi, nơi có tỷ lệ tử vong mẹ cao nhất thế giới, chỉ có 40% ca sinh do cán bộ y tế đỡ đẻ. Các bà mẹ đã từng sinh con hoặc mẹ chồng có ảnh hưởng rất nhiều đến sự lựa chọn nơi sinh của các bà mẹ [40]. Các biến số độc lập như học vấn, địa vị xã hội, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và các phương tiện truyền thông của các bà mẹ và người chồng có liên quan tới việc lựa chọn nơi sinh của các bà mẹ [43]. Các kết quả của những nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố góp phần làm số lượng các ca đẻ tại y tế công giảm là do các bà mẹ mong muốn sự sạch sẽ, không bị quấy rầy trong chuyển dạ hoặc khi sinh, có thể thực hiện các phong tục tập quán, mặc khác khi đẻ tại y tế công phải mất chi phí đi lại, có một người chăm sóc và không thực hiện được các phong tục tập quán như khi đẻ ở nhà [36]. 9
  10. 10. 1.1.2.3. Tình hình chăm sóc trong sinh tại Việt Nam Sinh con tại cơ sở y tế rất thuận tiện và an toàn. Tuy nhiên hiện nay tại Việt Nam, việc sinh con tại nhà còn khá nhiều ở các cộng đồng với mức độ phổ biến khác nhau, từ những cuộc đẻ không có sự trợ giúp nào cho tới những cuộc đẻ có sự trợ giúp của những người không được đào tạo hoặc những người có chuyên môn. Tỷ lệ sinh tại nhà dao động trong khoảng 2 – 16,7% ở các khu vực đồng bằng và 50 - 58% tại các khu vực vùng sâu, vùng xa và miền núi [22]. Yếu tố học vấn, dân tộc và nghề nghiệp của các bà mẹ, phương tiện vận chuyển đến cơ sở y tế có liên quan đến việc đẻ tại nhà hay không của các bà mẹ [40], [46], [42]. Nghiên cứu tại Bình Định cho biết đa số các bà mẹ người dân tộc Bana, Hrê, Chăm đẻ tại nhà với sự giúp đỡ của mẹ ruột hoặc chồng, chị dâu hoặc hàng xóm, hoặc bất kỳ ai có kinh nghiệm. Quan niệm chung của cộng đồng đều cho rằng phụ nữ Banna, Hrê, Chăm thường dễ đẻ cho nên chồng hay người nhà của sản phụ thích nhờ sự giúp đỡ của những người từng có kinh nghiệm đỡ đẻ hơn là chú trọng đến người có qua lớp đào tạo, có chuyên môn đỡ đẻ [11]. Nghiên cứu tại Hà Giang cho thấy đa số phụ nữ H’Mông sinh con tại nhà, họ cho rằng sự có mặt của người thân trong lúc sinh đẻ là rất cần thiết. Việc đẻ tại nhà giúp thai phụ yên tâm về tinh thần với sự hỗ trợ của người thân trong quá trình sinh nở. Họ quan niệm, đẻ ở nhà tốt hơn vì không có thời gian và phương tiện đưa thai phụ đến trạm y tế kịp trong lúc chuyển dạ. Bà đỡ có thể là một nữ hộ sinh, có thể là mẹ của thai phụ, mẹ chồng, chị em ruột hoặc bất kỳ một phụ nữ lớn tuổi nào trong làng có kinh nghiệm đỡ đẻ. Và khi có biến chứng hoặc gặp phải những nguy hiểm trong quá trình sinh nở, họ thường nhờ đến sự giúp đỡ của thầy cúng thay vì sự giúp đỡ của các cán bộ y tế [23]. 10
  11. 11. 1.1.3. Kiến thức về chăm sóc sau sinh 1.1.3.1. Khái niệm Thời kỳ sau sinh được tính từ khi thai nhi được đẻ ra cho đến 6 tuần sau đẻ, và quan trọng nhất là 2 tuần đầu. Thời kỳ này các nguy cơ cho mẹ, liên quan đến cuộc đẻ vẫn còn tồn tại, ảnh hưởng cho sức khỏe thai phụ như nhiễm khuẩn hậu sản, băng huyết, nhiễm độc thai nghén. Thêm vào đó xuất hiện những vấn đề mới liên quan tới dinh dưỡng và chăm sóc trẻ sơ sinh [20]. Thời kỳ này bà mẹ cần được nghỉ ngơi và ăn uống bồi dưỡng để phục hồi sức khỏe và có nhiều sữa cho con bú. 1.1.3.2. Tình hình chăm sóc sau sinh trên thế giới Ý thức quan tâm đến sức khỏe của người phụ nữ kém là trở ngại chính cho việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sau sinh. Nghề nghiệp, dân tộc, số lần mang thai, số con của bà mẹ, tình trạng kinh tế - xã hội, nghề nghiệp và giáo dục của người chồng là những yếu tố có liên quan, có ý nghĩa thống kê đến việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sau sinh của các bà mẹ [30]. Trên thế giới, tỷ lệ khám lại sau sinh của các bà mẹ vẫn còn khá thấp, tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Nghiên cứu tại Bangladesh, tỷ lệ bà mẹ có khám thai là 93% và khám lại sau sinh chỉ là 28%. Có một số yếu tố ảnh hưởng đến sự công bằng trong sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ như khoảng cách địa lý, khu vực cư trú, học vấn của các bà mẹ và chồng, điều kiện kinh tế. Có sự khác biệt trong việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ giữa người nghèo và người giàu, người giàu khám lại sau sinh cao gấp 1.5 lần so với người nghèo [27]. Các yếu tố ảnh hưởng đến chăm sóc sau sinh của các bà mẹ là vấn đề học vấn, khoảng cách địa lý, điều kiện kinh tế, chất lượng dịch vụ chăm sóc y tế, … Tại các vùng nông thôn của Tanzania, phụ nữ có thai thường hay than 11
  12. 12. phiền về việc thiếu nhân viên y tế, thiếu trang thiết bị và các khoản tiền trợ cấp [37]. 1.1.3.3. Tình hình chăm sóc sau sinh tại Việt Nam Theo quan niệm của nhiều dân tộc ở Việt Nam, thì phụ nữ sau khi sinh tại các cơ sở y tế, các bà mẹ trở về nhà và phải tuân thủ rất nhiều các phong tục tập quán truyền thống theo thiết chế gia đình và cộng đồng. Theo một báo cáo tổng kết công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản của Bộ Y tế, tỷ lệ bà mẹ được chăm sóc sau sinh chung cả nước là 86% (2003); 86,2% (2005), khu vực Nam bộ là 90% (2003) và 92,63% (2005) [6]. Kết quả nghiên cứu của Tổ chức Cứu trợ Nhi đồng Mỹ tại Thừa Thiên Huế cho biết có 74,9% bà mẹ có khám lại sau sinh, trong 126 bà mẹ không khám lại sau sinh có 63,5% cho rằng không thấy có vấn đề gì về sức khỏe nên không khám lại; 17,5% không nhận thức được sự cần thiết phải khám lại sau sinh, số còn lại cho rằng thiếu phương tiện đi lại, bố (mẹ) không cho phép đi hoặc do nguyên nhân không đủ tiền [42]. Tỷ lệ khám lại sau sinh của của các vùng miền có sự khác nhau, tỷ lệ các bà mẹ khám lại sau sinh ở Thanh Hóa là 67% [40], Vĩnh Long 88,4% [46], Thái Nguyên 52,9% [41], … Những bà mẹ lớn tuổi, người Kinh, có học vấn cao, công chức, sống gần cơ sở y tế và phương tiện đi lại thuận lợi có xu hướng khám lại sau sinh cao hơn các bà mẹ khác [45], [41], [46]. Nhận thức về nội dung và ý nghĩa của chăm sóc sức khỏe bà mẹ trong quá trình mang thai và sinh nở chưa đầy đủ và chưa được quan tâm một cách chủ động, thiết thực. Sự thiếu hiểu biết về những kiến thức khoa học cùng với những phong tục tập quán lạc hậu trong lối sống, đặc biệt đối với những phụ nữ vùng dân tộc và những vùng khó khăn về địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội, đã góp phần tạo nên những tồn tại trong công cuộc chăm sóc sức khỏe bà mẹ - trẻ sơ sinh [3]. 12
  13. 13. Ở nước ta nhiều nơi còn phổ biến tình trạng bà mẹ sinh con và chăm sóc trẻ tại nhà, công tác khám sau đẻ không được làm tốt nên vai trò của người mẹ trong việc phát hiện và xử trí những dấu hiệu bệnh tật ở trẻ sơ sinh càng quan trọng. Do đó, tỷ lệ bệnh và tử vong trong thời kỳ sơ sinh phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức và thực hành của các bà mẹ. 1.2. Thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh của các bà mẹ 1.2.1. Thực hành chăm sóc trước sinh 1.2.1.1. Nội dung của chăm sóc trước sinh Khám thai Để hạn chế những vấn đề sức khỏe có thể xảy ra đối với sức khỏe của cả bà mẹ và thai nhi thì khám thai là một biện pháp quan trọng. Ở Việt Nam, theo quy định của Bộ Y tế, trong một kỳ thai nghén người phụ nữ cần được khám thai định kỳ ít nhất 3 lần ở 3 quý của thai kỳ [5], [19]. Ngoài những lần khám thai theo quy định, các bà mẹ mang thai cần đi khám ngay khi có những dấu hiệu bất thường như đau đầu dữ dội, nhìn mờ, rối loạn thị lực, phù mặt, tay chân, co giật, thai cử động không bình thường (thai đạp yếu , đạp ít hoặc không đạp), ra máu âm đạo, sốt cao, … [2]. Uống bổ sung viên sắt Thai phụ cần được uống liên tục mỗi ngày một viên trong suốt thời gian có thai đến hết 6 tuần sau đẻ. Tối thiểu phải uống ít nhất trước đẻ 90 ngày. Việc cung cấp viên sắt cần được thực hiện ngay từ lần khám thai đầu. Tiêm phòng uốn ván Để phòng uốn ván cho bà mẹ và trẻ sơ sinh, có 2 nội dung cẩn phải làm: - Tiêm vaccine phòng uốn ván mũi thứ nhất từ tháng thứ tư trở đi, mũi thứ hai cách mũi đầu ít nhất 1 tháng và chậm nhất là trước khi đẻ 1 tháng - Làm rốn vô khuẩn 13
  14. 14. Chế độ lao động, sinh hoạt và chế độ dinh dường của các thai phụ Quá trình mang thai là thời kỳ khó khăn đối với các bà mẹ, vì vậy các bà mẹ cần có nhiều thời gian nghỉ ngơi, chăm sóc sức khỏe bản thân. Sức khỏe bà mẹ tốt thì thai nhi mới phát triển tốt và khỏe mạnh. Trong thời gian này, bà mẹ cần được nghỉ ngơi nhiều, tránh những lao động vất vả, … - Làm việc theo khả năng, xen kẽ nghỉ ngơi, tránh làm những công việc nặng nhọc, tránh tiếp xúc với các chất độc hại, phóng xạ. - Nghỉ ngơi hoàn toàn trong tháng cuối. - Không thức khuya, dậy sớm, không làm việc quá khuya. Đảm bảo mỗi ngày ngủ ít nhất 8 giờ đồng hồ. Về chế độ ăn uống, dinh dưỡng: Ăn tăng cả về lượng và chất. Để có thể ăn được nhiều hơn, cần thay đổi món ăn, thay đổi cách chế biến sao cho ngon miệng và hợp với khẩu vị của thai phụ. Ăn đủ các chất dinh dưỡng, rau quả, không nên kiêng khem những thực phẩm mà họ ưa thích. Tuyệt đối không được sử dụng những chất kích thích như rượu, bia, thuốc lá, …. 1.2.1.2. Thực hành chăm sóc trước sinh trên thế giới Công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ - trẻ em trên thế giới ngày càng được quan tâm và chú trọng đẩy mạnh. Ngày 19/09/2008, Qũy Nhi đồng Liên Hiệp Quốc công bố mức độ bao phủ chăm sóc trước sinh ở các nước đang phát triển tăng 15% trong thập kỷ qua, 75% bà mẹ mang thai được chăm sóc trước sinh [25]. Báo cáo của UNICEF (01/2009) cho biết tỷ lệ phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ (15 – 49 tuổi) có thai được khám thai ít nhất 1 lần bời cán bộ y tế có chuyên môn trên toàn thế giới là 77%, thấp nhất là khu vực Nam Á 68%, cao nhất là khu vực Mỹ La Tinh và Caribe 94%, các nước đang phát triển là 77% và các nước kém phát triển là 64%. Dịch vụ chăm sóc trước sinh ở các nước cũng khác nhau, tại Somalia là 26%, Ethiopia 28%, Lào 35%, Nepal 44%, 14
  15. 15. India 74%, Myanmar 76%, Philippines 88%, Thailand 98%, Úc 100% và ở Việt Nam là 91% [53]. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới tại các nước đang phát triển, tỷ lệ phụ nữ khám thai đủ 3 lần khoảng từ 10% đến hơn 90%, đặc biệt phụ nữ nghèo ở các vùng nông thôn không khám thai đủ theo quy định. Nghiên cứu tại tỉnh Amhui Trung Quốc hơn một nửa số người phụ nữ khám thai lần đầu tiên vào tuần thứ 13 của thai kỳ, 36% khám thai ít hơn 5 lần và khoảng 9% không khám thai lần nào và lý do chính của việc không khám thai là do người phụ nữ cho rằng việc khám thai là không cần thiết [47]. 1.2.1.3. Thực hành chăm sóc trước sinh ở Việt Nam Tại Việt Nam, nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em đang ngày càng được chú trọng. Sức khỏe của các bà mẹ nâng cao và cải thiện. Báo cảo tổng kết 20 năm thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu ở Việt Nam (1999) cho biết 55% bà mẹ được khám thai; 26,5% được khám đủ 3 lần; 83,3% bà mẹ được tiêm phòng uốn ván; 73% bà mẹ đẻ tại trạm y tế xã, phường, bệnh viện [9]. Tuy nhiên tỷ lệ sử dụng các dịch vụ chăm sóc thai sản nhìn chung chưa cao và không đồng đều trong cả nước. Theo báo cáo tổng kết của Vụ Sức khỏe sinh sản năm 2005 có 84,6% thai phụ khám thai từ 3 lần trở lên, trong đó cao nhất là vùng đồng bằng Sông Hồng 97,7%, thấp nhất là vùng Tây Nguyên 64,6% [6]. Tại Sóc Sơn, theo nghiên cứu của Trịnh Thanh Thúy năm 1998 có 82,4% bà mẹ được khám thai; 89,2% bà mẹ được tiêm phòng uốn ván [17]. Tại Bình Định, tỷ lệ khám thai đủ 3 lần và tiêm phòng uốn ván đủ 2 mũi là 94,3% và 84,3% [11]. Nghiên cứu tại Kim Bảng, Hà Nam (1999) của Nguyễn Thế Vỹ và Hoàng Văn Thái cho biết tỷ lệ khám thai của các bà mẹ là 82,1%; tỷ lệ tiêm phòng uốn ván là 65,8% [10]. Năm 2000, tại Quảng Xương – Thanh Hóa có 95% thai phụ được khám thai; 73,3% được khám thai từ 3 lần trở lên; 95,5% được tiêm phòng uốn ván và 15
  16. 16. 77,2% được tiêm đủ 2 mũi. Báo cáo cũng ghi nhận 21,6% ca đẻ tại nhà và tỷ lệ bà mẹ được khám thai sau đẻ chỉ là 39,5%; đồng thời cũng nêu nên thực trạng kiến thức của phụ nữ về các dấu hiệu nguy hiểm khi mang thai, trong chuyển dạ và sau sinh còn rất hạn chế. Có khoảng 25 – 50% trường hợp được hỏi không kể được bất cứ một dấu hiệu hay triệu chứng nguy hiểm nào [32]. Nghiên cứu tại Tiên Du tỉnh Bắc Ninh cho thấy thực hành khám thai đủ 3 lần của các bà mẹ chiếm 70,7%; tiêm vaccine uốn ván chiếm 98,7% nhưng số lượng bà mẹ tiêm đủ 2 mũi chỉ có 90,7%; uống bổ sung viên sắt là 64% và 62% bà mẹ được cung cấp dinh dưỡng tốt trong thời kỳ mang thai [14]. 1.2.2. Thực hành chăm sóc trong sinh Thời kỳ chuyển dạ đối với người phụ nữ mang thai là một thời kỳ khó khăn, cũng tiền ẩn nhiều nguy cơ. Chuyển dạ là một quá trình quan trọng nhất, dễ xảy ra tai biến nhất cho cả mẹ và con. Vì vậy, cần phải chuẩn bị tâm lý tốt cho sản phụ và nên được thực hiện ở cơ sở y tế do người có chuyên môn nghiệp vụ (bác sỹ, y sỹ sản nhi, nữ hộ sinh) giúp đỡ nhằm đảm bảo an toàn. 1.2.2.1. Thực hành chăm sóc trong sinh trên thế giới Chuyển dạ là một quá trình quan trọng nhất, dễ xảy ra tai biến nhất cho cả mẹ và bé, vì vậy bà mẹ cần được theo dõi tại các cơ sở y tế với đầy đủ trang thiết bị hiện đại và tiên tiến để hạn chế tối đa các biến chứng có thể xảy ra như băng huyết, sa dây rau, vỡ ối sớm, … Nếu không thể đến được cơ sở y tế thì cần phải có cán bộ y tế có chuyên môn giúp đỡ sinh tại nhà. Ở nhiều nơi trên thế giới, phụ nữ thích sinh con ở nhà với sự giúp đỡ của các bà mụ vườn hoặc người thân [33]. Tổ chức Y tế thế giới ước tính mỗi năm trên toàn thế giới có khoảng 136 triệu ca sinh, tại các nước kém phát triển có ít hơn 2/3 ca sinh do cán bộ y tế có chuyên môn đỡ sinh, các nước ít phát triển nhất chỉ có 1/3 ca sinh có sự giúp đỡ của cán bộ y tế có chuyên môn [51]. Theo công bố của Qũy Nhi đồng Liên Hiệp quốc ở một số nơi của Châu Á, tỷ lệ phụ nữ khi 16
  17. 17. sinh được nữ hộ sinh đở đẻ ở mức 31 – 40% (năm 1995 - 2005). Nhiều nước Châu Phi cũng có mức tương tự [25]. Ở những nước có thu nhập cao chỉ có 1% bà mẹ tử vong. 1.2.2.2. Thực hành chăm sóc trong sinh tại Việt Nam Thực hành của những người trợ giúp các cuộc đẻ tại nhà gây nhiều nguy cơ và hầu như không bao gồm chăm sóc trẻ sơ sinh và theo dõi sau sinh. Theo báo cáo tổng kết công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản của Bộ Y tế, tỷ lệ phụ nữ toàn quốc đẻ có cán bộ y tế đỡ là 94,7% (2004) và 93,3% (2005) [6]. Báo cáo đánh giá cuối kỳ về thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ chăm sóc SKSS tại 12 tỉnh tham gia Chương trình Quốc gia 6 Quỹ Dân số Liên Hiệp quốc Việt Nam năm 2005 thì tỷ lệ bà mẹ đẻ tại cơ sở y tế nhà nước là 81,7% (2003) và 88,2% (2005); Tỷ lệ bà mẹ khi sinh được nhân viên y tế đỡ đẻ là 89,3% (2003) và 93,2% (2005) . Báo cáo tổng quan các nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe sinh sản tại Việt Nam giai đoạn 2000 – 2005 của Qũy Dân số Liên Hiệp Quốc nhận xét các nghiên cứu đều thống nhất rằng có khoảng 80% phụ nữ Việt Nam sinh tại các cơ sở y tế hay tại nhà với người đỡ đẻ được đào tạo [22]. Nhìn chung tại Việt Nam, tỷ lệ các bà mẹ lựa chọn nơi sinh là tại nhà và do những người không có kinh nghiệm hoặc không được đào tạo về chuyên môn còn khá phổ biến. Một nghiên cứu tại Huế cho biết trong 10,3% các bà mẹ sinh con tại nhà có 65,3% do bà đỡ dân gian đỡ đẻ và 20,8% do người thân trong gia đình đỡ [42]. Tại Thanh Hóa, với 27% những người sinh con tại nhà có 28,9% do cán bộ y tế đỡ sinh; 40,5% do bà đỡ dân gian đỡ sinh (Nhũ Thanh), và 35,6% do bà mẹ tự xoay sở hoặc do sự giúp đỡ của người thân trong gia đình [40], Nghiên cứu tại Vĩnh Long cho biết tỷ lệ bà mẹ đẻ tại bệnh viện là 48,6%, trạm y tế xã là 20%, và đẻ tại nhà là 1,2% [46]. Trong khi đó tại Thái Nguyên, tỷ lệ bà 17
  18. 18. mẹ đẻ tại nhà thấp hơn (2,2%); hầu như các bà mẹ đẻ tại nhà không được sử dụng gói đỡ sạch [41]. Nhìn chung, tại Việt Nam tỷ lệ các bà mẹ lựa chọn nơi sinh là tại nhà tập trung nhiều ở các bà mẹ người dân tộc thiểu số [11], [23]. 1.2.3. Thực hành chăm sóc sau sinh Chăm sóc sau sinh là những chăm sóc cho bà mẹ bao gồm: chăm sóc giai đoạn sau sinh, kế hoạch hóa gia đình, phòng chống nhiễm trùng, vệ sinh, dinh dưỡng và cho con bú. Về mặt lý thuyết, phụ nữ sau sinh cần phải được thăm khám 2 lần: một lần trong ngày đầu tiên và một lần trong vòng 42 ngày sau sinh [5]. 1.2.3.1.Thực hành chăm sóc sau sinh trên thế giới Trên thế giới, tình hình khám lại sau sinh khá thấp, phụ thuộc vào nhiểu yếu tố. Theo một kết quả nghiên cứu, phần lớn những phụ nữ Palestine coi việc thăm khám sau sinh là cần thiết chiếm 66,1% nhưng chỉ có 36,6% có khám lại sau sinh. Bởi 85% phụ nữ cho rằng họ không bị bệnh, họ hoàn toàn khỏe mạnh, không cần phải khám lại sau sinh; 15,5% không khám lại sau sinh do không được bác sĩ dặn phải khám lại [29]. Tại Nepal tỷ lệ phụ nữ khám lại sau sinh ở mức thấp chiếm 34%, chỉ 19% được khám lại trong vòng 48 giờ sau sinh. Nghiên cứu tiến hành Bangledesh, tỷ lệ bà mẹ có khám thai là 93%, nhưng tỷ lệ khám lại sau sinh chỉ là 28%. 1.2.3.2. Thực hành chăm sóc sau sinh tại Việt Nam Sau sinh, tỷ lệ khám lại của các bà mẹ thấp hơn nhiều so với tỷ lệ khám thai, dao động từ ¼ (23,8%) – 2/3 (70%) phụ thuộc từng địa phương. Chất lượng của chăm sóc sau sinh cũng không đáp ứng được nhu cầu của bà mẹ. Chỉ 1/3 (31%) được khuyến khích nhận các thăm khám thường xuyên trong vòng 42 ngày sau đẻ [44]. Báo cáo tổng quan các nghiên cứu về chăm sóc sức 18
  19. 19. khỏe sinh sản tại Việt Nam giai đoạn 2000 - 2005 của Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc, thì hầu hết các phụ nữ tử vong ở trong giai đoạn sau sinh, hơn 4/5 (80 - 83%) là chết ngay trong ngày đầu tiên sau đẻ. Số còn lại chủ yếu chết trong tuần lễ đầu tiên [22]. Những nghiên cứu ở những khu vực/tỉnh thành khác nhau cho thấy tỷ lệ khám lại sau sinh cũng khác nhau. Nghiên cứu tại Huế có 74,9% bà mẹ có khám lại sau sinh [42], tại Thanh Hóa 67% [40], Vĩnh Long 88,4% [46], Bình Định 82% [11] trong khi đó ở Thái Nguyên tỷ lệ này chỉ là 52,9% [41]. 19
  20. 20. Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 2.1.1 Thời gian tiến hành nghiên cứu Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 10/2012 đến tháng 12/2012. 2.1.2. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu Nghiên cứu được tiến hành ở 2 huyện Lục Yên (12 xã) và Trạm Tấu (11 xã), với tổng số 33 xã. Địa bàn nghiên cứu có những đặc điểm cơ bản sau [48]: Yên Bái là tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa, thuộc vùng Trung du và miền núi phía Bắc, là một trong 13 tỉnh vùng núi phía bắc, nằm giữa 2 vùng Tây Bắc và Đông Bắc. Đời sống kinh tế khó khăn, trình độ dân trí thấp cộng với địa hình phức tạp, mạng lưới y tế thôn bản vừa mỏng và yếu nên sức khỏe của người dân chưa được quan tâm chu đáo, đặc biệt là vấn đề sức khỏe sinh sản. Yên Bái có 9 đơn vị hành chính (1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện) với tổng cộng 180 xã, phường, thị trấn, trong đó có 70 xã vùng cao và 62 xã đặc biệt khó khăn, có 2 huyện vùng cao Trạm Tấu, Mù Cang Chải (đồng bào Mông chiếm trên 80%) nằm trong 61 huyện nghèo, đặc biệt khó khăn của cả nước. Tỷ lệ hộ nghèo ở Yên Bái là 25,2% cao hơn so với cả nước (12,6%) [49], Yên Bái có diện tích tự nhiên khoảng 6.886,3 km2; nằm trải dọc đôi bờ sông Hồng. Địa hình Yên Bái tương đối phức tạp, có độ dốc lớn, cao dần từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc, độ cao trung bình 600m so với mực nước biển, … Yên Bái có khí hậu đặc trưng của khí hậu cận nhiệt đới ẩm của miền bắc Việt Nam, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông thì nhiệt độ lạnh và khô. Trên địa bàn tỉnh có 30 dân tộc cùng chung sống. Các dân tộc ở Yên Bái sống xen kẽ, quần tụ ở khắp các địa phương của tỉnh với những bản sắc văn hóa phong 20
  21. 21. phú đa dạng, nhiều màu sắc. Theo tổng cục thống kê Việt Nam, năm 2011 tỉnh Yên Bái có 758.600 người, trong đó có 378.800 nữ, toàn tỉnh có 214 cơ sở y tế với 534 bác sĩ, 400 nữ hộ sinh. Điều kiện cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn và khó khăn. Tổng tỷ suất sinh 2,26 con/ phụ nữ (năm 2011) cao hơn so với bình quân của cả nước (1,99). Tỷ lệ chết trẻ dưới 1 tuổi rất cao 26,1‰, cao hơn nhiều so với bình quân của cả nước (15,5‰) [49], [8]. 2.2. Đối tượng nghiên cứu Phụ nữ có con dưới 1 tuổi trên địa bàn nghiên cứu được phỏng vấn tại nhà.  Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu: - Phụ nữ có con dưới 1 tuổi. - Hiện đang sống tại Trạm Tấu và Lục Yên. - Tự nguyện tham gia nghiên cứu.  Tiêu chuẩn loại trừ: - Không tự nguyện tham gia vào nghiên cứu - Mắc các bệnh về tâm thần. 2.3. Phương pháp nghiên cứu 2.3.1. Thiết kế nghiên cứu Là một nghiên cứu mô tả cắt ngang. 2.3.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu ∗ Cỡ mẫu Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức: Trong đó: n: Cỡ mẫu nghiên cứu. Z1-α/2: Hệ số tin cậy ở mức xác suất 95% (=1,96). 21
  22. 22. p: Tỷ lệ bà mẹ khám thai đủ 3 lần: 40% (dựa vào báo cáo của Quỹ Dân số Liên hiệp Quốc năm 2010 cho 3 tỉnh miền núi) [24]. q = 100% - p. d: Độ sai lệch mong muốn là 8% DE: Hệ số thiết kế nghiên cứu là 1,5 Cỡ mẫu tối thiểu được tính từ công thức trên là 220 bà mẹ. Trên thực tế nghiên cứu này đã điều tra được 516 bà mẹ. ∗ Kỹ thuật chọn mẫu Kỹ thuật lấy mẫu nhiều giai đoạn được áp dụng. - Giai đoạn 1: Tất cả các xã trong mỗi huyện sẽ được chia thành 2 nhóm, nhóm gần và nhóm xa tính theo khoảng cách từ các xã tới trung tâm của huyện. Cỡ mẫu của 2 nhóm sẽ tỷ lệ với số phụ nữ sinh con trong năm trước ở các nhóm. - Gia đoạn 2: Tất cả các xã ở mỗi nhóm đã được xác định ở giai đoạn 1 sẽ được chia thành 3 nhóm nhỏ, xã đông dân cư, trung bình và xã ít dân cư dựa vào dân số của mỗi xã. Cỡ mẫu yêu cầu của mỗi nhóm tỷ lệ với số phụ nữ sinh con trong năm trước. - Giai đoạn 3: 50% xã trong mỗi nhóm nhỏ sẽ được lựa chọn để tiến hành khảo sát. Các điều tra chi tiết sẽ được hoàn chỉnh sau chuyến đi tiền trạm tới tỉnh. Cỡ mẫu yêu cầu được lựa chọn được tính bằng cách chia tổng số đối tượng cần thiết ở mỗi nhóm (nhóm đông dân cư, nhóm ít dân cư và nhóm trung bình) cho số xã được chọn trong các nhóm nhỏ này. 2.3.3. Công cụ thu thập thông tin 22
  23. 23. Công cụ nghiên cứu: trong nghiên cứu này sử dụng phương pháp điều tra bằng bộ câu hỏi tại gia đình để thu thập thông tin về kiến thức và thực hành của các bà mẹ. 23
  24. 24. 2.3.4. Kỹ thuật thu thập thông tin Quy trình thu thập thông tin: - Tại tỉnh, 8 nhân viên từ trung tâm y tế dự phòng của 2 xã sẽ được chọn và đào tạo để làm việc như giám sát chuyên môn địa phương và 24 nhân viên sẽ được tuyển và đào tạo để tiến hành phỏng vấn tại gia đình, 2 - 3 nhân viên y tế ở mỗi xã được chọn sẽ là trợ lý cho đội ngũ khảo sát. - Tập huấn điều tra: Tập huấn cho điều tra viên và giám sát chuyên môn về mục đích, phương pháp và miêu tả ngắn gọn về cuộc khảo sát, cùng thảo luận và sửa bộ câu hỏi, cách hoàn thành phiếu phỏng vấn và kế hoạch cụ thể của từng xã. - Thu thập số liệu ở mỗi xã: • Lập bản đồ của những đối tượng khảo sát khác nhau của mỗi xã dựa vào vị trí địa lý và những điều kiện riêng biệt của từng xã. • Tiến hành phỏng vấn. Trong thời gian thực địa, các giám sát viên địa phương hoàn thành nhật ký thực địa về nhật ký thực địa, làm báo cáo hàng ngày cho người nghiên cứu chính và giám sát chung về quá trình, vấn đề xảy ra trong quá trình thu thập dữ liệu. • Kiểm soát chất lượng dữ liệu: tất cả những mẫu đã hoàn thành sẽ được kiểm tra lỗi, thiếu sót và thông tin không logic để bổ sung kịp thời. 2.3.5. Biến số và chỉ số Biến số và chỉ số của nghiên cứu dựa vào bộ câu hỏi phỏng vấn. Cấu trúc của bảng câu hỏi này được phát triển dựa trên hướng dẫn của WHO và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh. 24
  25. 25. Nhóm biến số Biến số Chỉ số Một số đặc trưng cá nhân Đặc trưng cá nhân Tuổi Tuổi trung bình Dân tộc Tỷ lệ % theo dân tộc (kinh, Tày, Dao, H’Mông, Thái, Nùng, khác) Trình độ học vấn Tỷ lệ % theo trình độ học vấn (mù chữ, tiểu học, trung học cơ sở, phổ thông trung học, cao đẳng/ trung cấp, đại học trở nên) Nghề nghiệp Tỷ lệ % theo nghề nghiệp (làm ruộng, buôn bán nhỏ, công nhân, chăn nuôi, cán bộ/ công chức, khác) Kiến thức chăm sóc trước, trong và sau sinh ` Chăm sóc trước sinh Khám thai Tỷ lệ % theo câu trả lời (có, không, không trả lời) Lợi ích khám thai Tỷ lệ % theo các lợi ích (phát hiện các dấu hiệu nguy hiểm, được tư vấn, ..) Nơi khám thai Tỷ lệ % theo nơi khám thai (trạm y tế, bệnh viện huyện, bệnh viện tỉnh, …) Tiêm phòng uốn ván Tỷ lệ % theo trả lời của bà mẹ (biết, không biết, không trả lời) Uống viên sắt Tỷ lệ % theo câu trả lời (có, không/ không nhớ, không biết) Dấu hiệu nguy hiểm Tỷ lệ % bà mẹ trả lời (biết, không biết, không trả lời) Tỷ lệ % theo các dấu hiệu (ra máu nhiều, đau bụng dữ dội, đau đầu, đái buốt, …) Chăm sóc trong sinh Dấu hiệu nguy hiểm Tỷ lệ % theo câu trả lời (biết, không biết, không trả lời) Tỷ lệ % theo các dấu hiệu (đau đẻ kéo dài quá 12 giờ, sốt cao, co giật, ra máu, ..) Bú sữa lần đầu sau sinh Tỷ lệ % theo thời điểm bú sữa lần đầu (trong vòng 1h sau sinh, từ 2-3h sau đẻ, từ 4-6h sau đẻ,…) Lợi ích của Tỷ lệ % theo câu trả lời (tăng sức đề kháng, để 25
  26. 26. sữa mẹ trẻ có sức khỏe tốt, giảm rối loạn tiêu hóa, …) Chăm sóc sau sinh Khám lại sau sinh Tỷ lệ % theo câu trả lời (không, có, chỉ khi nào có bệnh, không biết, không trả lời) Dấu hiệu nguy hiểm sau sinh Tỷ lệ % theo các dấu hiệu (chảy máu nhiều, sốt, co giật, khí hư, …) Thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh Chăm sóc trước sinh Khám thai Tỷ lệ % theo số lần khám thai (< 3 lần, ≥ 3 lần) Nơi khám thai Tỷ lệ % theo nơi khám thai (trạm y tế xã, bệnh viện huyện, bệnh viện tỉnh, …) Tiêm phòng uốn ván Tỷ lệ % theo số lần tiêm phòng (1 lần, 2 lần, 3 lần, …) Uống viên sắt Tỷ lệ % theo thời điểm uống (tháng thứ 1-3, tháng thứ 4-6, …) Tỷ lệ % theo thời gian uống sắt (< 3 tháng, ≥ 3 tháng, không biết, không trả lời) Nơi khám/điều trị những dấu hiệu nguy hiểm Tỷ lê % theo nơi khám/điều trị (không khám ở đâu, trạm y tế, y tế thôn, bệnh viện, …) Chăm sóc trong sinh Nơi sinh Tỷ lệ % theo nơi sinh (trạm y tế, bệnh viện huyện, bệnh viện tỉnh/trung ương, ..) Người đỡ đẻ Tỷ lệ % theo người đỡ đẻ (cán bộ y tế, bà đỡ/mụ vườn, …) Chăm sóc sau sinh Khám lại sau sinh Tỷ lệ % theo câu trả lời (có, không, không nhớ/ không trả lời) Tỷ lệ % theo thời điểm khám lại (trong vòng 1h sau đẻ, từ 1h-24h sau đẻ, …) Tỷ lệ % theo lý do không được khám lại sau sinh (không biết là cần phải khám, quá bận, không có tiển, …) Người khám lại sau sinh Tỷ lệ % theo người khám lại (bác sĩ, nữ hộ sinh sản nhi, y tế thôn, …) Dấu hiệu nguy hiểm Tỷ lệ % nơi khám/ điều trị những dấu hiệu nguy hiểm (khám khám chữa, trạm y tế, bệnh viện, y tế tư nhân, …) 26
  27. 27. 2.4. Sai số và cách khống chế 2.4.1. Sai số thu thập thông tin Là những sai số trong quá trình thu thập thông tin gây ra bởi cách điều tra viên đặt câu hỏi hoặc do khả năng nắm bắt câu hỏi của các bà mẹ còn hạn chế, hoặc do sai số khi ghỉ chép thông tin. Khắc phục - Điều tra viên được tập huấn kỹ về phương pháp điều tra và ghi chép số liệu điều tra. - Phát triển bộ câu hỏi đơn giản, dễ hiểu. - Ở các hộ dân tộc chúng tôi có đi kèm phiên dịch là người dân tộc. - Tăng cường giám sát và giám sát lẫn nhau khi điều tra. - Bố trí câu hỏi kiểm tra thông tin trong bộ phiếu điều tra. - Huấn luyện kỹ điều tra viên. - Quá trình nhập số liệu vào máy được kiểm tra đối chiếu 2 lần, được thực hiện bởi 2 người khác nhau. 2.4.2. Sai số nhớ lại Xảy ra do thời gian mang thai dài, bà mẹ khó nhớ, đặc biệt là các bà mẹ người dân tộc. Khắc phục - Hỏi từng đoạn ngắn, tuần tự, kiểm tra lại thông tin nghi ngờ. - Sử dụng các mốc thời gian (Tết, ngày rằm, lễ hội tại địa phương, …) để giúp bà mẹ gợi nhớ. - Tuyển chọn và tập huấn kỹ điều tra viên để có khả năng gợi nhớ, tăng khả năng nhớ lại của đối tượng về các sự kiện nghiên cứu quan tâm. - Phát triển bộ câu hỏi đơn giản, dễ hiểu. Bộ câu hỏi được thử nghiệm tại thực địa và được chỉnh sửa để phù hợp với các đối tượng phỏng vấn. 27
  28. 28. 2.5. Xử lý và phân tích số liệu - Nhập liệu: Số liệu được làm sạch. Nhập 2 lần vào máy tính với phần mềm Epidata 3.1. Validate để đảm bảo sự chính xác trong quá trình nhập số liệu. - Phân tích số liệu: sử dụng phần mềm SPSS 16.0 - Số liệu được phân tích theo số lượng và tỷ lệ % 2.6. Đạo đức nghiên cứu - Nghiên cứu có sự đồng ý của chính quyền địa phương. Tất cả các đối tượng nghiên cứu đều tự nguyện tham gia. - Đối tượng được giải thích đầy đủ về nội dung và mục đích của nghiên cứu. - Mọi thông tin của bệnh nhân được giữ bí mật và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không vì mục đích khác. - Các số liệu đều được mã hóa để đảm bảo tính bí mật của thông tin. 28
  29. 29. Chương 3 KẾT QUẢ 3.1. Một số đặc trưng cá nhân Bảng 3.1. Một số đặc trưng của bà mẹ Đặc trưng Trạm Tấu (n = 264) Lục Yên (n = 252) Chung (N = 516) SL % SL % SL % Dân tộc Kinh 18 6,8 35 13,9 53 10,3 Tày 3 1,1 161 63,9 164 31,8 H’Mông 189 71,6 0 0,0 189 36,6 Thái 52 19,7 1 0,4 53 10,3 Khác (Dao, Nùng, Sán Dìu, Xá, Mường) 2 0,8 55 21,8 57 11,0 Trình độ học vấn Mù chữ 157 59,5 8 3,2 165 32,0 Tiểu học 23 8,7 20 7,9 43 8,3 Trung học cơ sở 60 22,7 116 46,0 176 34,1 Phổ thông trung học 12 4,6 90 35,7 102 19,8 Trên phổ thông trung học 12 4,5 18 7,1 30 5,8 Kết quả trên cho thấy phần lớn các bà mẹ là người dân tộc H’Mông, chiếm tỷ lệ cao nhất (36,6%), tiếp theo là các bà mẹ người dân tộc Tày 31,8%, các bà mẹ người dân tộc Kinh và Thái cùng đạt tỷ lệ 10,3%, còn lại là một số ít các dân tộc khác (11,0%). Tỷ lệ các bà mẹ học hết trung học cơ sở là 34,1% sau đó tới phổ thông trung học (19,8%); tuy nhiên thì tỷ lệ các bà mẹ mù chữ cũng khá cao chiếm 32,0% tổng số các bà mẹ được nghiên cứu. 29
  30. 30. Bảng 3.2. Tuổi trung bình của các bà mẹ Huyện SL Tuổi trung bình ( ± SD ) Trạm Tấu 264 25,5 ± 6,7 Lục Yên 252 25,4, ± 5,0 Chung 516 25,4 ± 5,9 Kết quả trên cho thấy tuổi trung bình của các bà mẹ trong nghiên cứu là 25,4 ± 5,9. 0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90% 100% làmru ng/r yộ ẫ Buôn bán nhỏ Cán b /côngộ ch cứ Khác (chăn nuôi, công nhân) 90,9 2,3 5,3 1,5 85,3 5,2 7,1 2,4 88,2 3,7 6,2 1,9 Tr m T uạ ấ L c Yênụ Chung Biểu đồ 3.1. Nghề nghiệp của các bà mẹ Nghề nghiệp của các bà mẹ trong nghiên cứu chủ yếu là làm ruộng/ rẫy chiếm 88,2% chung cho cả hai huyện. Chỉ có 6,2% là cán bộ/ công chức và một số nhỏ là ngành nghề khác. 30
  31. 31. 3.2. Thông tin về kiến thức chăm sóc trước, trong và sau sinh 3.2.1. Kiến thức chăm sóc trước sinh của các bà mẹ Bảng 3.3. Kiến thức của bà mẹ về số lần khám thai Số lần khám thai Trạm Tấu Lục Yên Chung SL % SL % SL % < 3 56 21,2 25 9,9 81 15,7 ≥ 3 82 31,1 214 84,9 296 57,4 Không biết 119 45,1 12 4,8 131 25,4 Không trả lời 7 2,7 1 0,4 8 1,6 Tổng 264 100,0 252 100,0 516 100,0 Từ kết quả trên cho thấy tỷ lệ các bà mẹ ở Trạm Tấu trả lời không biết về số lần khám thai rất lớn (45,1%). Từ kết quả trên, có thể tính ra trong tổng số 138 bà mẹ ở Trạm Tấu có đi khám thai thì có tới 40,6% bà mẹ không biết trong thời gian mang thai cần đi khám thai tối thiểu 3 lần và từ 3 lần trở lên. Tỷ lệ các bà mẹ ở Trạm Tấu đi khám thai đầy đủ trên 3 lần chỉ chiếm 31,1% tổng số 264 bà mẹ được hỏi. Trong khi đó, tỷ lệ các bà mẹ ở Lục Yên đi khám thai đầy đủ trên 3 lần rất cao (84,9%), tỷ lệ bà mẹ trả lời không biết chiếm một tỷ lệ nhỏ (4,8%). 31
  32. 32. Bảng 3.4. Kiến thức của các bà mẹ về lợi ích của việc khám thai Lợi ích của khám thai Trạm Tấu Lục Yên Chung SL % SL % SL % Phát hiện sớm các dấu hiệu nguy hiểm 91 34,5 219 86,9 310 60,1 Được tư vấn 54 20,5 61 24,2 115 22,3 Kiểm tra thai khỏe, phát triển BT 9 3,4 16 6,4 25 4,8 Khác (biết giới tính, dị tật, tiên lượng cuộc đẻ) 0 0,0 1 0,4 1 0,2 Về lợi ích của việc khám thai, các bà mẹ Yên Bái cho biết chủ yếu là để phát hiện sớm các dấu hiệu nguy hiểm (60,1%), để được tư vấn (22,3%). Tuy vậy, vẫn có sự chênh lệch giữa ý kiến về việc đi khám thai nhằm phát hiện sớm các dấu hiệu nguy hiểm của các bà mẹ Trạm Tấu và Lục Yên (34,5% và 86,9% tương ứng). Bảng 3.5. Kiến thức về uống viên sắt Hiều biết về uống viên sắt Trạm Tấu Lục Yên Chung SL % SL % SL % Có 145 54,9 224 88,9 369 71,5 Không 116 43,9 27 10,7 143 27,7 Không nhớ, không biết 3 1,1 1 0,4 4 0,8 Tổng 264 100,0 252 100,0 516 100,0 Tính chung cho cả 2 huyện thì có 71,5% các bà mẹ có kiến thức về uống viên sắt trong thời gian mang thai 32
  33. 33. 0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90% 100% Tr m T uạ ấ L c Yênụ Chung 39,4 82,5 60,5 58,3 16,3 37,8 2,3 1,2 1,7 không tr l iả ờ không bi tế bi tế Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ bà mẹ biết lợi ích của tiêm phòng uốn ván Tỷ lệ bà mẹ biết lợi ích của việc tiêm phòng uốn ván chỉ chiếm 60,5% cho cả 2 huyện, bên cạnh đó vẫn còn xấp xỉ 40% bà mẹ không biết mục đich của tiêm phòng uốn ván là để làm gì. 33
  34. 34. Bảng 3.6. Dấu hiệu nguy hiểm trong khi mang thai Dấu hiệu Trạm Tấu (n = 157) Lục Yên (n = 237) Chung (N = 394) SL % SL % SL % Ra máu nhiều 84 53,5 169 71,3 253 64,2 Đau bụng dữ dội 86 54,8 156 65,8 242 61,4 Đau đầu dữ dội 49 31,2 63 26,6 112 28,4 Đái buốt, đái rắt 5 3,2 14 5,9 19 4,8 Phù mặt/ tay chân 8 5,1 21 8,9 29 7,4 Sốt 28 17,8 39 16,5 67 17,0 Co giật 7 4,5 14 5,9 21 5,3 Nôn 21 13,4 54 22,8 75 19,0 Hoa mắt, chóng mặt 32 20,4 73 30,8 105 26,7 Khác (đau lưng, giảm cân, khó chịu, …) 24 15,3 17 7,2 41 10,4 Kết quả trên cho thấy có 73,6 % bà mẹ nhận biết được những dấu hiệu nguy hiểm trong khi mang thai. Những dấu hiệu mà bà mẹ cho rẳng cần phải đi khám ngay được nhắc tới nhiều là đau bụng dữ dội (61,4%), sau đó là dấu hiệu ra máu (64,2%), đau đầu dữ dội (28,4%), hoa mắt chóng mặt (26,7%). 34
  35. 35. 3.2.2. Kiến thức chăm sóc trong sinh của các bà mẹ 0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90% 100% Tr m T uạ ấ L c Yênụ Chung 54,2 87,7 70,5 43,6 11,9 28,1 2,3 0,4 1,4 không tr l iả ờ không bi tế bi tế Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ bà mẹ biết những dấu hiệu nguy hiểm trong sinh Kết quả trên cho thấy đã có 70,5% bà mẹ biết những dấu hiệu/triệu chứng trong khi chuyển dạ cần phải mời bác sỹ/nhân viên y tế. Nhưng cũng vẫn còn 28,1% bà mẹ không biết những dấu hiệu nguy hiểm nào, tập trung chủ yếu Trạm Tấu. 35
  36. 36. Bảng 3.7. Những dấu hiệu nguy hiểm trong thời kỳ chuyển dạ Dấu hiệu Trạm Tấu (n = 143) Lục Yên (n = 221) Chung (N = 364) SL % SL % SL % Đau đẻ kéo dài quá 12 giờ mà chưa đẻ 99 69,2 132 59,7 231 63,5 Sốt cao 25 17,5 34 15,4 59 16,2 Co giật 11 7,7 16 7,2 27 7,4 Ra máu 44 30,8 115 52,0 159 43,7 Ra nước (nước ối) 33 23,1 92 41,6 125 34,3 Thấy tay, chân, rau thai ra trước 9 6,3 11 5,0 20 5,5 Khác (con to, khó thở, đau bụng/lưng nhiều, choáng, …) 15 10,5 14 6,3 29 8,0 Ba dấu hiệu mà theo bà mẹ là cần phải mời bác sỹ ngay đó là đau đẻ kéo dài quá 12 giờ mà chưa đẻ (63,5%); ra nước ối (34,3%) và ra máu (43,7%). 36
  37. 37. Bảng 3.8. Thời điểm nên cho trẻ bú lần đầu tiên sau sinh Thời điểm cho trẻ bú lần đầu sau sinh Trạm Tấu Lục Yên Chung SL % SL % SL % Trong vòng 1h đầu sau đẻ 158 59,9 211 83,7 369 71,5 Từ giờ thứ 2 đến 3h sau đẻ 25 9,5 23 9,1 48 9,3 Từ giờ thứ 4 đến 6h 2 0,8 0 0,0 2 0,4 Từ giờ thứ 7 đến hết ngày đầu sau đẻ 0 0,0 1 0,4 1 0,2 Sau 1 ngày sau đẻ 6 2,3 1 0,4 7 1,4 Khác (càng sớm càng tốt, khi có sữa…) 1 0,4 0 0,0 1 0,2 Không biết 72 27,3 16 6,4 88 17,0 Không trả lời 0 0,0 0 0,0 0 0,0 Tổng 264 100,0 252 100,0 516 100,0 Có 71,5% bà mẹ biết thời điểm nên cho trẻ bú lần đầu là trong vòng 1 giờ sau sinh. Tuy nhiên tỷ lệ trả lời không biết vẫn còn khá cao (17,0%). Nếu tính riêng thì sự chênh lệch giữa Trạm Tấu và Lục Yên là rất lớn, tương ứng 27,3% và 6,4%. 37
  38. 38. Bảng 3.9. Kiến thức của bà mẹ về lợi ích của sữa mẹ Lợi ích của sữa mẹ Trạm Tấu ( n = 176) Lục Yên (n = 236) Chung (N = 412) SL % SL % SL % Tăng cường sức đề kháng của trẻ 56 31,8 163 69,1 219 53,2 Trẻ có sức khoẻ tốt 141 80,1 203 86,0 344 83,5 Tăng cường mối quan hệ mẹ con 15 8,5 33 14,0 48 11,7 Giảm rối loạn tiêu hoá 14 8,0 24 10,2 38 9,2 Trẻ thông minh 18 10,2 43 18,2 61 14,8 Tốt cho mắt của trẻ 2 1,1 10 4,2 12 2,9 Phòng các bệnh hô hấp cho trẻ 14 8,0 17 7,2 31 7,5 Khác (không tốn tiền, đủ dinh dưỡng, sạch, mau lớn…) 17 9,7 8 3,4 25 6,1 79,9% bà mẹ biết lợi ích của sữa mẹ. Những lợi ích của sữa mẹ được nhắc đến chủ yếu là giúp tăng cường sức đề kháng của trẻ (53,2%) và để trẻ có sức khoẻ tốt (83,5%). 38
  39. 39. 3.2.3. Kiến thức chăm sóc sau sinh của các bà mẹ Bảng 3.10. Ý kiến của bà mẹ về sự cần thiết được các nhân viên y tế khám lại sau khi sinh Ý kiến của bà mẹ Trạm Tấu Lục Yên Chung SL % SL % SL % Không 69 26,0 19 7,5 88 17,0 Có 109 41,3 221 87,7 330 64,0 Chỉ cần khi nào có bệnh 35 13,3 12 4,8 47 9,1 Không biết 49 18,6 0 0,0 49 9,5 Không trả lời 2 0,8 0 0,0 2 0,4 Tổng 264 100,0 252 100,0 516 100,0 64,0% bà mẹ cho rằng cần thiết được các nhân viên y tế khám sau khi sinh. Riêng Trạm Tấu, tỷ lệ này chỉ là 41,3%. Chung cho cả 2 huyện, có khoảng 17% bà mẹ cho rằng không cần phải khám. 39
  40. 40. Bảng 3.11. Nhận biết của các bà mẹ về những dấu hiệu nguy hiểm sau sinh Dấu hiệu Trạm Tấu Lục Yên Chung Số lượng % Số lượng % Số lượng % Chảy máu nhiều 111 75,0 191 81,6 302 79,1 Sốt 66 44,6 89 38,0 155 40,6 Co giật 22 14,7 26 11,1 48 12,6 Khí hư (huyết trắng) có mùi hôi 10 6,8 20 8,5 30 7,9 Đau bụng dưới dữ dội 72 48,7 136 58,1 208 54,5 Đau đầu dữ dội 39 26,4 64 27,4 103 27,0 Sưng đau vú 20 13,5 32 13,7 52 13,6 Sa dạ con 4 2,7 14 6,0 18 4,7 Rách âm đạo 11 7,4 21 9,0 32 8,4 Khác (buồn nôn, chóng mặt, ăn kém, không có sữa, tăng HA…) 15 10,1 11 4,7 26 6,8 Không biết 111 42,9 18 7,1 129 25,2 Không trả lời 5 1,9 0 0,0 5 1,0 Những dấu hiệu sau khi sinh mà bà mẹ cho rằng cần phải đi khám ngay, nếu có, đó là chảy máu nhiều (79,1%); đau bụng dưới dữ dội (54,5%); sốt (40,6%), những dấu hiệu như đau đầu, sung đau vú… cũng là những triệu chứng theo bà mẹ cần phải khám ngay nhưng tỷ lệ này không cao. Tỷ lệ bà mẹ trả lời không biết vẫn còn khá cao (25,2%), chủ yếu là ở Trạm Tấu. 40
  41. 41. 3.3. Thực hành về chăm sóc trước, trong và sau sinh 3.3.1. Thực hành chăm sóc trước sinh của các bà mẹ Bảng 3.12. Khi mang thai, bà mẹ có/không được khám thai Thực hành của bà mẹ Trạm Tấu Lục Yên Chung Số lượng % Số lượng % Số lượng % Có 132 50,0 248 98,4 380 73,6 Không 129 48,9 4 1,6 133 25,8 Không trả lời 3 1,1 0 0,0 3 0,6 264 100,0 252 100,0 516 100,0 Chung cho 2 huyện: 73,6% các bà mẹ trong thời kỳ thai nghén được khám thai. Tuy vậy, tỷ lệ này chỉ đạt 50,0% ở Trạm Tấu Bảng 3.13. Số lần thực tế bà mẹ đi khám thai Số lần bà mẹ đã khám thai Trạm Tấu Lục Yên Chung SL % SL % SL % < 3 67 50,8 43 17,4 110 29,0 3 31 23,5 134 54,0 165 43,4 > 3 30 22,7 68 27,4 98 25,8 Không nhớ/ không trả lời 4 3,0 3 1,2 7 1,8 Tổng 132 100,0 248 100,0 380 100,0 Bảng trên có thấy 43,4% bà mẹ được khám thai đủ 3 lần và 25,8% được khám thai trên 3 lần. Tỷ lệ khám thai đủ 3 lần trở lên ở Lục Yên khá cao (81,4%), trong khi đó ở Trạm Tấu chỉ đạt 46,2%. Gộp chung cho cả hai huyện tỷ lệ khám thai không đủ 3 lần là 29,0%. 41
  42. 42. 0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90% 100% Tr m T uạ ấ L c Yênụ Chung 64,4 80,7 75,0 41,7 43,1 42,6 6,8 4,8 5,5 15,9 23,8 21,0 CSYT tư nhân b nh vi n t nhệ ệ ỉ b nh vi n huy nệ ệ ệ tr m y tạ ế Biểu đồ 3.4. Nơi bà mẹ khám thai Nơi bà mẹ đến khám thai phần lớn tập trung ở 2 địa điểm là Trạm y tế xã (75%) và bệnh viện huyện (42,6%), tỷ lệ bà mẹ đến cơ sở y tế tư nhân là 21,0%. Đặc biệt, trong số các bà mẹ được nghiên cứu thì không có ai đến thầy lang hay mụ vườn để khám thai. Bảng 3.14. Số lần tiêm phòng UV Số lần tiêm UV TrạmTấu Lục Yên Chung SL % SL % SL % 1 40 25,1 34 14,0 74 18,4 2 96 60,4 197 81,1 293 72,9 3 14 8,8 8 3,3 22 5,5 4 0 0,0 0 0,0 0 0,0 Không nhớ 9 5,7 4 1,6 13 3,2 Tổng 159 100,0 243 100,0 402 100,0 Tỷ lệ các bà mẹ ở Yên Bái tính chung cho cả hai huyện được tiêm phòng uốn ván là 77,9%. Trong đó tỷ lệ bà mẹ được tiêm đủ 2 mũi uốn ván là 72,89%. 42
  43. 43. Bảng 3.15. Thời điểm bắt đầu uống viên sắt của bà mẹ Trong tháng thứ Trạm Tấu Lục Yên Chung SL % SL % SL % 1-3 56 38,6 144 64,3 200 54,2 4-6 40 27,6 60 26,8 100 27,1 7-9 13 9,0 5 2,2 18 4,9 Không nhớ 36 24,8 15 6,7 51 13,8 Tổng 145 100.0 224 100,0 369 100,0 54,2% bà mẹ uống viên sắt ngay trong những tháng đầu có thai; 27,1% bắt đầu uống vào 3 tháng giữa của thai kỳ, khoảng 5% uống muộn vào 3 tháng cuối có thai. 0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90% Dưới 3 tháng T 3 tháng trừ ở lên Không bi tế Không tr l iả ờ 16,5 66,2 15,2 2,1 11,6 87,5 0,9 0.0 13,6 79,1 6,5 0,8 Tr m T uạ ấ L c Yênụ Chung Biểu đồ 3.5. Thời gian uống viên sắt của bà mẹ Trong tổng số 516 bà mẹ tham gia nghiên cứu có 369 bà mẹ uống viên sắt trong thời gian mang thai chiếm tỷ lệ 71,5%. Trong đó gần 80% bà mẹ uống viên sắt được một khoảng thời gian từ 3 tháng trở lên 43
  44. 44. Bảng 3.16. Nơi bà mẹ khám/điều trị khi có những dấu hiệu nguy hiểm Nơi khám/ điều trị Trạm Tấu (n = 76) Lục Yên (n = 88) Chung (N = 164) SL % SL % SL % Không khám ở đâu 29 38,2 23 26,2 52 31,7 Trạm y tế 35 46,1 50 56,8 85 51,8 Y tế thôn 0 0,0 0 0,0 0 0,0 Bệnh viện 14 18,4 20 22,7 34 20,7 Y tế tư nhân 4 5,3 7 8,0 11 6,7 Tự chữa 7 9,2 4 4,6 11 6,7 Khác (mụ vườn, TTSKSS) 0 0,0 1 1,1 1 0,6 Không nhớ/ không trả lời 0 0,0 0 0,0 0 0,0 Khi gặp những dấu hiệu bất thường, các địa chỉ bà mẹ đến khám và điều trị chủ yếu trạm y tế (51,8%); bệnh viện (20,7%). Tuy nhiên có tới 31,7% không khám, chữa và một số tự điều trị hoặc tới y tế tư nhân. 3.3.2. Thực hành chăm sóc trong sinh của các bà mẹ Bảng 3.17. Nơi sinh Nơi sinh Trạm Tấu Lục Yên Chung SL % SL % SL % Trạm y tế 17 6,4 109 43,2 126 24,4 Bệnh viện huyện 48 18,2 131 52,0 179 34,7 Bệnh viện tuyến tỉnh/ trung ương 8 3,0 3 1,2 11 2,1 CSYT tư nhân 0 0,0 0 0,0 0 0,0 Tại nhà 187 70,9 9 3,6 196 38,0 Trong rừng/ rẫy 3 1,1 0 0,0 3 0,6 Không trả lời 1 0,4 0 0,0 1 0,2 Tổng 264 100,0 252 100,0 516 100,0 Tại Yên Bái, cho thấy tỷ lệ bà mẹ sinh con tại nhà và trong rừng rẫy tương ứng 38,0% và 0,6%. Việc sinh con tại nhà và trong rừng rẫy tập trung chủ yếu ở huyện Trạm Tấu (tương ứng 70,9% và 1,1%). Các bà mẹ Lục Yên sinh con chủ yếu ở trạm y tế (43,2%) và bệnh viện huyện (52,0%). Tính chung cho cả hai huyện thì tỷ lệ các bà mẹ lựa chọn nơi sinh là các cơ sở y tế chiếm 61,2%. 44
  45. 45. Bảng 3.18. Người đỡ đẻ khi bà mẹ không sinh con ở cơ sở y tế Người đỡ đẻ Trạm Tấu Lục Yên Chung SL % SL % SL % Cán bộ y tế 7 3,7 3 33,3 10 5,0 Bà đỡ/mụ vườn 17 8,9 2 22,2 19 9,6 Tự đỡ 18 9,5 0 0,0 18 9,0 Khác (mẹ, chồng, mẹ đẻ, chị dâu, …) 148 77,9 4 44,5 152 76,4 Không nhớ/ không trả lời 0 0,0 0 0,0 0 0,0 Tổng 190 100,0 9 100,0 199 100.0 Với những bà mẹ không sinh con ở cơ sở y tế, người đỡ trẻ chủ yếu (76,4%) là mẹ chồng, mẹ đẻ, chồng, chị dâu, chị gái, bố đẻ, hàng xóm, … Ngoài ra có khoảng 10% bà mẹ tự đỡ và khoảng 10% khác do bà đỡ/ mụ vườn. 3.3.3. Thực hành chăm sóc sau sinh của các bà mẹ 0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% Tr m T uạ ấ L c Yênụ Chung 25,8 57,5 41,3 74,2 42,5 58,7 Có Không Biểu đồ 3.6. Tỷ lệ bà mẹ được khám lại trong vòng 7 tuần sau khi đẻ Tại Yên Bái tính chung cho cả 2 huyện thì mới chỉ có 41,3% bà mẹ được thăm khám lại trong vòng 7 tuần sau đẻ. 45
  46. 46. Bảng 3.19. Lý do bà mẹ không được thăm khám sau khi đẻ Lý do Trạm Tấu (n = 196) Lục Yên (n = 107) Chung (N = 303) SL % SL % SL % Không biết là cần phải đi khám 56 28,6 1 0,9 57 18,8 Không biết cơ sở khám ở đâu 0 0,0 0 0,0 0 0,0 Quá bận 11 5,6 2 1,9 13 4,3 Không có tiền 9 4,6 0 0,0 9 3,0 Cơ sở y tế ở xa 14 7,1 0 0,0 14 4,6 Bố mẹ không đồng ý 1 0,5 0 0,0 1 0,3 Chồng không đồng ý 3 1,5 0 0,0 3 1,0 Không có phương tiện đi lại 8 4,1 2 1,9 10 3,3 Không có vấn đề gì nên không đi khám 116 59,2 102 95,3 218 72,0 Khác (xấu hổ) 2 1,0 0 0,0 2 0,7 Trong số những bà mẹ không được khám lại trong 7 tuần sau đẻ, có 72,0% bà mẹ cho biết vì không thấy có vấn đề gì nên không đi khám; 18,8% không biết cần phải khám, phần còn lại là quá bận, không có phương tiện đi lại, cũng có những bà mẹ ở Trạm Tấu do chồng hoặc bố mẹ không đồng ý cho đi khám hoặc do quá xa cơ sở y tế. 46
  47. 47. Bảng 3.20. Thời điểm bà mẹ được khám sau đẻ Thời điểm Trạm Tấu (n = 68) Lục Yên (n = 145) Chung (N = 213) SL % SL % SL % Trong vòng 1 h sau đẻ 16 23,5 53 36,6 69 32,4 Từ 1h - 24h sau đẻ 20 29,4 82 56,6 102 47,9 Từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 3 sau đẻ 10 14,7 43 29,7 53 24,9 Từ ngày thứ 4 đến hết tuần 1 sau đẻ 6 8,8 35 24,1 41 19,3 Sau 1 tuần sau đẻ 40 58,8 33 22,8 73 34,3 Không nhớ 6 8,8 3 2,1 9 4,2 Không trả lời 0 0,0 0 0,0 0 0,0 Với những bà mẹ được khám sau đẻ, các lần khám rải đều ở các thời điểm: Trong vòng 1 h sau đẻ (32,4%); Từ 1h - 24h sau đẻ (47,9%); Từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 3 sau đẻ (24,9%); Từ ngày thứ 4 đến hết tuần 1 sau đẻ (19,25%) và Sau 1 tuần sau đẻ (34,3%). Bảng 3.21. Người đã khám cho bà mẹ sau khi đẻ Người khám Trạm Tấu (n = 68) Lục Yên (n = 145) Chung (N = 213) SL % SL % SL % Bác sĩ 32 47,1 106 73,1 138 64,8 NHS, Y sĩ sản nhi 32 47,1 109 75,2 141 66,2 Y tế thôn 19 27,9 23 15,7 42 19,7 Bà/ông đỡ 2 2,9 0 0,0 2 0,9 Mẹ (không phải đỡ chuyên nghiệp) 1 1,5 0 0,0 1 0,5 Khác 0 0,0 0 0,0 0 0,0 Không nhớ 2 2,9 0 0,0 2 0,9 Không trả lời 0 0,0 0 0,0 0 0,0 Những người khám cho bà mẹ sau đẻ hầu hết là nhân viên y tế. Tuy vậy vẫn còn có bà mẹ được khám bởi mẹ đẻ/mẹ chồng hoặc bà đỡ. 47
  48. 48. Bảng 3.22. Nơi bà mẹ đã đi khám/điều trị khi có dấu hiệu nguy hiểm Nơi khám/ điều trị Trạm Tấu (n = 74) Lục Yên (n = 59) Chung (N = 133) SL % SL % SL % Không khám chữa gì 30 40,5 4 6,8 34 25,6 Trạm y tế 19 25,7 27 45,8 46 34,6 Nhân viên y tế thôn bản 0 0,0 1 1,7 1 0,8 Bệnh viện 14 18,9 23 39,0 37 27,8 Y tế tư nhân 4 5,4 0 0,0 4 3,0 Tự điều trị tại nhà 13 17,6 5 8,5 18 13,5 Khác (TTSKSS) 0 0,0 0 0,0 0 0,0 Không nhớ/ không trả lời 0 0,0 0 0,0 0 0,0 Khi có dấu hiệu bất thường, nơi bà mẹ thường đến để khám và điều trị nhiều nhất là trạm y tế (34,6%), sau đó là bệnh viện (27,8%). Có 25,6% bà mẹ không khám, chữa gì khi gặp những dấu hiệu bất thường sau đẻ và 13,5% tự điều trị tại nhà. 48
  49. 49. Chương 4 BÀN LUẬN 4.1. Kiến thức và thực hành chăm sóc trước sinh 4.1.1. Khám thai Kiến thức về khám thai của các bà mẹ Thai nghén là giai đoạn có nhiều nguy hiểm, có thể dẫn tới những vấn đề ảnh hưởng tới sức khỏe như bệnh tật, thậm chí tử vong hoặc các biến chứng lâu dài sau sinh mà bất cứ một phụ nữ nào cũng có thể mắc phải trong thời kỳ mang thai. Tuy nhiên, những vấn đề đó hoàn toàn có thể phòng ngừa được bằng cách khám thai đầy đủ. Ở Việt Nam, theo quy định của Bộ Y tế, trong một lần mang thai người phụ nữ cần được khám thai định kỳ ít nhất 3 lần ở 3 quý của thai kỳ [5], [19]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có tới 25,4% bà mẹ tại Yên Bái không biết trong thời gian mang thai cần đi khám thai tối thiểu 3 lần và từ 3 lần trở lên. Trong số đó có tới 45,1% bà mẹ Trạm Tấu không biết rằng phụ nữ mang thai cần khám thai tối thiểu 3 lần, trong khi đó tỷ lệ này ở Lục Yên chỉ là 4,8%. Về lợi ích của việc khám thai, các bà mẹ Yên Bái cho biết chủ yếu là để phát hiện sớm các dấu hiệu nguy hiểm (60,1%), để được tư vấn (22,3%). Ý kiến đi khám thai để phát hiện sớm các dấu hiệu nguy hiểm của các bà mẹ Trạm Tấu khá thấp (34,5%) trong khi Lục Yên lại cao hơn rất nhiều (86,9%). Thực hành khám thai của các bà mẹ Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi thì có 73,6% các bà mẹ trong thời gian mang thai được khám thai. Tỷ lệ này ở Trạm Tấu rất thấp, chỉ đạt 50,0%, trong khi ở Lục Yên tỷ lệ khám thai gần như tuyệt đối (98,4%). Điều đặc biệt ở Yên Bái là 100% các bà mẹ khám thai ở các cơ sở y tế, không có trường 49
  50. 50. hợp nào đến khám thai ở các thầy lang hay các bà mụ vườn. Xét một cách khách quan thì tỷ lệ các bà mẹ được khám thai ở Yên Bái (73,6%) cao hơn so với các nước khác trên thế giới như khu vực Nam Á 68%, các nước kém phát triển 64%, Afghanistan 16%, Somalia 26%, Ethiopia 28%, Lào 35%, Nepal 44% [52], nhưng thấp hơn khu vực Mỹ Latinh và Caribe 94%; các nước đang phát triển 77%; India 74%; Myanmar 76%; Thailand 98% [52], và các tỉnh khác trong nước như Thanh Hóa 97,9% [40]; Vĩnh Long 87,6% [46]; Huế 97,8% [42]; Thái Nguyên 97,4% [41]. Tại Việt Nam, theo báo cáo của Vụ Sức khỏe Sinh sản năm 2005 có 84,6% thai phụ khám thai từ 3 lần trở lên, trong đó cao nhất là vùng đồng bằng Sông Hồng 97,7% và thấp nhất là vùng Tây Nguyên 64,6% [6]. Tỷ lệ phụ nữ khám thai từ 3 lần trở lên trong nghiên cứu này ở mức tương đối thấp (69,21%), thấp hơn so với một số tỉnh khác trong nước như Thanh Hóa 80% [40], Thừa Thiên Huế 82% [42], Hải Dương 70,2% [18], Bắc Ninh 81,1% [12], Thái Nguyên 84% [41], Vĩnh Long 87% [46], … Qua một số kết quả trên có thể thấy công tác chăm sóc thai sản tại tỉnh Yên Bái hiện nay chưa được thực hiện tốt. Thực trạng trên đã đặt ra một câu hỏi: “Tại sao tỷ lệ bà mẹ không khám thai hoặc khám thai không đầy đủ lại chiếm một tỷ lệ lớn như vậy ?”. Câu hỏi đó có thể giải đáp là do Yên Bái là một tỉnh miền núi khó khăn, địa hình đồi núi phức tạp, tập trung nhiều dân tộc thiểu số sinh sống, trình độ văn hóa thấp với tỷ lệ bà mẹ mù chữ cao (32,0%), gần 90% bà mẹ làm ruộng/ rẫy. Mặt khác, tỷ lệ bác sĩ và nữ hộ sinh thấp, toàn tỉnh chỉ có 534 bác sĩ/758.600 người tương đương 0,7 bác sĩ/1000 dân và có khoảng 1 nữ hộ sinh/1000 phụ nữ (theo tổng cục thống kê 2011). Như vậy khó có thể đảm bảo công tác chăm sóc sức khỏe cho từng người. 50
  51. 51. 4.1.2. Tiêm phòng uốn ván Kiến thức của các bà mẹ Uốn ván sơ sinh là một trong 5 tai biến sản khoa mà chúng ta có thể phòng chống được nếu trong thời gian mang thai người phụ nữ được tiêm đủ mũi vaccine phòng uốn ván. Tiêm phòng uốn ván là một cấu thành quan trọng của việc chăm sóc thai sản. Theo chuẩn Quốc gia về chăm sóc SKSS, Bộ Y tế Việt Nam quy định về tiêm phòng uốn ván cho thai phụ như sau: Thai phụ hoàn toàn chưa được tiêm phòng uốn ván thì hẹn tiêm phòng uốn ván càng sớm càng tốt khi mang thai, tiêm 2 mũi cách nhau ít nhất 1 tháng và trước sinh ít nhất 1 tháng. Thai phụ khi còn ở độ tuổi vị thành niên đã được tiêm chủng 3 mũi thì tiêm thêm 1 mũi vào tháng thứ 4 hoặc tháng thứ 5 và tổng số mũi tiêm không quá 5 mũi cho cả cuộc đời. Thai phụ đã được tiêm phòng 3 – 4 mũi uốn từ trước, lần tiêm cuối cùng đã trên 1 năm thì tiêm thêm 1 mũi nhắc lại. Thai phụ đã được tiêm 5 mũi uốn ván thì không cần tiêm bổ sung, vì với 5 mũi khả năng bảo vệ trên 95%. Nhưng nếu mũi thứ 5 đã trên 10 năm thì nên tiêm nhắc lại [5]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho biết trong tổng số 516 bà mẹ được nghiên cứu thì chỉ có 60,5% bà mẹ có kiến thức về tiêm phòng uốn ván, bên cạnh đó thì vẫn còn xấp xỉ 40% bà mẹ được nghiên cứu không có kiến thức về tiêm phòng uốn ván, đa số các bà mẹ đó không biết mục đích của việc tiêm phòng uốn ván là để làm gì. 40% bà mẹ không có kiến thức về tiêm phòng uốn ván, đây một tỷ lệ không nhỏ. Nhưng đấy không phải là một kết quả bất ngờ đối với một tỉnh miền núi còn gặp nhiều khó khăn như Yên Bái. Theo nghiên cứu của chúng tôi thì tỷ lệ mù chữ của các bà mẹ Yên Bái khá cao (32,0%), tỷ lệ các bà mẹ có trình độ đến trung học cơ sở cũng thấp (34,1%), trong khi đó các kiến thức về sức khỏe sinh sinh sản hầu như không có nhiều và không được đưa vào 51
  52. 52. dạy trong chương trình học. Mặt khác, hầu như nghề nghiệp của các bà mẹ Yên Bái là làm nương/ rẫy (88,2%), quanh năm gắn chặt với ruộng đồng, bận rộn lo việc đồng áng, không có thời gian tìm hiều các vấn đề sức khỏe. Điều đó, chứng tỏ kết quả của chúng tôi về tỷ lệ các bà mẹ không có nhiều kiến thức về sức khỏe sinh sản nói chung và kiến thức về tiêm phòng uốn ván khi mang thai nói riêng là hợp lý. Thực hành tiêm phòng uốn ván của các bà mẹ Tại Việt Nam, theo báo cáo của Vụ Sức khỏe Sinh sản năm 2005, tỷ lệ phụ nữ đẻ được tiêm phòng đủ 2 mũi vaccine phòng uốn ván chung trên toàn quốc là 92% [6]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ phụ nữ mang thai được tiêm phòng uốn ván đạt 75,4%; trong khi đó tỷ lệ các bà mẹ được tiêm phòng đủ 2 mũi uốn ván là 72,9%; thấp hơn kết quả chung của toàn quốc và một số tỉnh khác như Hải Dương 85,4% [18], Bình Định 84,3% [11], Thái Nguyên 86,6% [41]; Bắc Ninh 90,5% [12]; Huế 93,9% [42]; Vĩnh Long 95,6% [46]; Thanh Hóa 78,9% [40], … Bên cạnh đó, tại Yên Bái có khoảng hơn 20% bà mẹ không tiêm phòng uốn ván khi mang thai. Lý do được biết đến chủ yếu là bà mẹ không biết (61,6%). Điều này càng chứng tỏ rằng mặc dù nhận thức của các bà mẹ chưa tốt nhưng công tác chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ mang thai ở Yên Bái chưa được quan tâm đẩy mạnh, hoàn thiện. Một phần cũng do điều kiện tự nhiên của Yên Bái. Là một tỉnh có 30 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc H’Mông chiếm tỷ lệ nhiều nhất (36,6%). Tập quán của người H’Mông là sống trên núi cao, phân bố rải rác khắp địa bàn tỉnh. Mặt khác, trạm y tế được xây dựng ở trung tâm địa bàn và vaccine được tiêm bảo quản phức tạp trong tủ lạnh, khó khăn trong việc di chuyển đi lại. Do vậy các bà mẹ dân tộc sống ở vùng cao việc đi lại từ nơi ở đến trạm y tế gặp nhiều khó khăn, phải lội suối, 52
  53. 53. trèo đèo, phương tiện chủ yếu là đi bộ, nên mất nhiều thời gian đi lại. Đối với người bình thường đi lại như vậy đã khó khăn, đối với phụ nữ mang thai còn khó khăn hơn. Mặt khác, dân cư sống tại Yên Bái phân bố rải rác nên việc tiếp cận và xây dựng mạng lưới y tế cũng còn gặp nhiều khó khăn. Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với nghiên cứu của Tổ chức Cứu trợ Nhi đồng Mỹ tại Thanh Hóa về lý do sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em: sự tiếp cận cơ sở y tế không thuận tiện, không sẵn có và cơ sở y tế quá xa, bà mẹ không nhận thức được sự cần thiết phải tiêm phòng, bà mẹ quá bận rộn với công việc mùa vụ nương rẫy, đã ảnh hưởng đến việc tiêm phòng uốn ván của các bà mẹ [40] 4.1.3. Uống viên sắt Kiến thức về bổ sung viên sắt của các bà mẹ Bình thường khi có thai, khoảng 30% chị em trong độ tuổi sinh sản được phát hiện có hàm lượng sắt trong máu thấp hơn mức cho phép. Trong thời kỳ mang thai, lượng hồng cầu của người mẹ tăng lên đáng kể, thai nhi hấp thu lượng lớn chất sắt từ cơ thể người mẹ qua nhau thai để đáp ứng nhu cầu phát triển của mình, vì vậy nếu chế độ dinh dưỡng của mẹ thiếu chất đạm hoặc ăn kiêng quá mức, ăn uống không hợp lý hoặc vì hoàn cảnh khó khăn, người mẹ rất dễ bị thiếu máy do thiếu sắt, không những vậy còn ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi. Khi thai phụ thiếu sắt, đầu tiên là lượng sắt dự trữ trong cơ thể được sử dụng hết, tiếp theo là các hồng cầu sinh ra có tính thiếu sắt, kích thước hồng cầu nhỏ hơn. Lúc này thai phụ dễ bị mệt mỏi, hoa mắt, người buồn phiền, bất an. Cuối cùng, mới gây thiếu máu do thiếu sắt thực sự - đây là loại thiếu máu nhược sắc hồng cầu nhỏ, gây chóng mặt, ù tai, da xanh nhợt, tim đập nhanh, tim to, … 53
  54. 54. Kết quả của chúng tôi cho thấy tỷ lệ các bà mẹ trên địa bàn nghiên cứu có kiến thức về việc bổ sung viên sắt còn khá thấp, tính chung cho cả hai huyện chỉ có 71,5% bà mẹ có kiến thức về vấn đề này. Có sự chênh lệch tỷ lệ về kiến thức uống bổ sung viên sắt của các bà mẹ giữa các địa bàn nghiên cứu, tỷ lệ các bà mẹ ở Trạm Tấu có kiến thức rất thấp chỉ đạt 54,9%, trong khi đó tỷ lệ này ở Lục Yên là 88,9%. Thực hành uống bổ sung viên sắt Tại Việt Nam, thiếu sắt trên thai phụ chiếm tới 82,64% các trường hợp thiếu máu. Uống viên sắt trước khi sinh được coi là một biện pháp hiệu quả giảm thiếu máu và trẻ đẻ nhẹ cân [39], [35]. Theo quy định của Chuẩn Quốc gia về chăm sóc SKSS, cần cho bà mẹ có thai uống viên sắt/Folic càng sớm càng tốt, uống mỗi ngày 1 viên liên tục trong suốt thời gian mang thai và 1 tháng sau đẻ. Tối thiểu trước đẻ cần uống trong vòng 90 ngày. Theo kết quả của một số nghiên cứu tại một số khu vực trong nước, tỷ lệ các bà mẹ có uống viên sắt ít nhất 90 ngày trong thời gian mang thai tại Hải Dương là 87,3% [18], Huế 90% [42], Thanh Hóa 80% [40], Thái Nguyên 90,8% [41], Vĩnh Long 87% [46]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tại Yên Bái, tỷ lệ bà mẹ có kiến thức và thực hành uống viên sắt trong thời gian mang thai là 71,5% thấp hơn so với kết quả của những tỉnh nêu trên. Tuy nhiên trong số đó chỉ có gần 80% bà mẹ ở Yên Bái uống viên sắt từ 3 tháng trở lên. Trước thực trạng như vậy một câu hỏi được đặt ra là: Yếu tố nào đã ảnh hưởng đến việc sử dụng và hấp thu sắt của các bà mẹ Yên Bái. Điều này sẽ để lại những hậu quả to lớn đối với sự phát triển của đứa trẻ cũng như sức khỏe của người mẹ. Nguyên nhân có thể từ những yếu tố khách quan như điều kiện kinh tế của người dân, điều kiện tự nhiên của địa bàn sinh sống rất vất vả, thiếu thốn. Cũng có thể do tồn tại những nguyên nhân chủ quan như ý thức kém, chưa đầy đủ của các bà mẹ mang thai, thiếu hướng dẫn của cán bộ y tế 54
  55. 55. có chuyên môn, hoặc do phong tục tập quán lạc hậu của đồng bào các dân tộc thiểu số ... 4.1.4. Các dấu hiệu nguy hiểm trong thời kỳ mang thai Kiến thức về các dấu hiệu nguy hiểm của các bà mẹ Trong quá trình mang thai, sức khỏe của bà mẹ có ảnh hưởng quan trọng đến sức khỏe và sự phát triển của thai nhi. Bất kỳ những thay đổi nào của người mẹ đều có ảnh hưởng đến sự phát triển thai nhi. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tại Yên Bái cho biết có 76,4% bà mẹ có hiểu biết về những trường hợp/dấu hiệu người phụ nữ mang thai cần phải đi khám trong khi mang thai. Tuy tỷ lệ những bà mẹ có kiến thức về những dấu hiệu nguy hiểm trong thời kỳ mang thai không phải là thấp nhưng vẫn còn xấp xỉ 22,5% bà mẹ không biết những điều này và tập trung chủ yếu ở Trạm Tấu. Những dấu hiệu nguy hiểm trong khi mang thai mà bà mẹ cho rằng cần phải đi khám ngay được nhắc tới nhiều nhất là ra máu âm đạo với tỷ lệ 64,2%, sau đó là đau bụng dữ dội (61,4%), đau đầu (28,4%) và hoa mắt chóng mặt với 26,7%. Đó là những dấu hiệu thường nhận thấy, còn đối với những dấu hiệu của nhiễm độc thai nghén như đau đầu dữ dội, phù tay/chân, … thì hầu như các bà mẹ không quan tâm nhiều và không được các bà mẹ kể đến. Kết quả trên phản ánh một phần nào đó về công tác xây dựng và phát triển mạng lưới y tế của Yên Bái – bất cập, thiếu xót và chưa đồng bộ. Công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho người dân, đặc biệt đối tượng phụ nữ mang thai còn chưa được quan tâm đúng mức. Thực hành của các bà mẹ khi có các dấu hiệu nguy hiểm Khi gặp những dấu hiệu bất thường, các địa chỉ bà mẹ đến khám hoặc điều trị chủ yếu là trạm y tế, bệnh viện. Bên cạnh đó, tỷ lệ bà mẹ không khám chữa gì cũng còn khá cao (31,7%), một số tự điều trị hoặc tới các cơ sở y tế tư nhân. 55
  56. 56. 4.2. Kiến thức và thực hành chăm sóc trong sinh 4.2.1. Nơi sinh của các bà mẹ Kiến thức của các bà mẹ Chuyển dạ là 1 quá trình quan trọng nhất, dễ xảy ra tai biến nhất cho cả mẹ và bé. Vì vậy, bà mẹ cần được theo dõi chuyển dạ tại cơ sở y tế để được chăm sóc chu đáo hạn chế tối đa các tai biến không mong muốn, không lường được chẳng hạn băng huyết, sa dây rau, vỡ ối sớm, … Trong trường hợp không thể đến được cơ sở y tế thì phải có cán bộ y tế có chuyên môn đỡ sinh. Báo cáo đánh giá cuối kỳ về thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ chăm sóc SKSS tại 12 tỉnh tham gia Chương trình Quốc gia 6 Qũy Dân số Liên Hiệp Quốc Việt Nam năm 2005 thì tỷ lệ bà mẹ đẻ tại các cơ sở y tế nhà nước là 88,2%. Ở nhiều nơi trên thế giới, phụ nữ thích sinh con ở nhà với sự giúp đỡ của các bà mụ vườn hoặc người thân. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Tú năm 2009 tại Bình Định, thì những người phụ nữ dân tộc Bana, Hrê, Chăm thích đẻ tại nhà với sự giúp đỡ của người thân, bởi vì theo họ quan niệm, những người phụ nữ dân tộc họ thường dễ đẻ và khi đẻ ở nhà thì họ có thể thực hiện được các phong tục tập quán một cách thuận lợi và dễ dàng [11]. Tại Việt Nam, các bà mẹ cũng có 2 sự lựa chọn về địa điểm chuyển dạ: sinh ngoài cơ sở y tế (sinh tại nhà và sinh ở nhà các bà mụ vườn) hay sinh tại cơ sở y tế (y tế tư nhân, trạm y tế xã và các cơ sở y tế tuyến cao hơn). Hiện nay sinh con tại cơ sở đang trở thành một sự lựa chọn phổ biến của nhiều bà mẹ mang thai, đặc biệt là ở những nơi đô thị hay những vùng có điều kiện kinh tế. Điều tra y tế Quốc gia 2001 – 2002 cho biết tỷ lệ phụ nữ đẻ tại trạm y tế xã là 29,8% [1]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ bà mẹ tại Yên Bái lựa chọn sinh tại cơ sở y tế nhà nước (trạm y tế, bệnh viện huyện/tỉnh hoặc bệnh 56
  57. 57. viện trung ương) chiếm 61,2% thấp hơn nhiều so với tỷ lệ chung của cả nước năm 2005 (88,2%) và thấp hơn so với kết quả nghiên cứu ở Bình Định năm 2009 (89%) [11], Huế 80,2% [42], Thanh Hóa 71,5% [40], Vĩnh Long 68,6% [46]. Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn còn cao hơn một số nước trên thế giới như Nam Phi 55,9% [38], Ấn Độ 31% [43]. Thực hành lựa chọn nơi sinh của các bà mẹ Thay vì lựa chọn sinh tại các cơ sở y tế thì các bà mẹ Yên Bái lựa chọn sinh tại nhà với tỷ lệ khá cao 38,0%, cao hơn so vơi các bà mẹ lựa chọn sinh tại trạm y tế (24,4%) hay ở bệnh viện (34,7%). Tỷ lệ sinh con tại nhà của các bà mẹ Trạm Tấu là rất cao 70,9%, trong khi tỷ lệ này ở Lục Yên chỉ là 3,6%. Đặc biệt, ở Trạm Tấu có 1,1% bà mẹ lựa chọn nơi sinh là trong rừng/rẫy thay vì đến sinh ở các cơ sở y tế hay sinh tại nhà. Việc lựa chọn nơi sinh như vậy khó có thể đảm bảo được an toàn trong cuộc đẻ. Nó tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của cả thai phụ và thai nhi. Tại sao ở Yên Bái tỷ lệ các bà mẹ chọn nơi sinh là tại nhà lại cao như vậy, điều này có thể giải thích là do điều kiện tự nhiên của Yên Bái: địa hình phức tạp, đi lại khó khăn, thiếu thốn về phương tiện, nhiều dân tộc sinh sống rải rác, nhiều phong tục tập quán lạc hậu, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế hạn chế, mạng lưới y tế vừa mỏng vừa yếu. Trong khi đó, khi các bà mẹ đẻ tại nhà sẽ thuận tiện hơn trong sinh hoạt, ăn uống và chăm sóc. Một phần nguyên nhân nữa có thể do bản thân người mẹ không có hiểu biết về SKSS, theo nghiên cứu của chúng tôi thì tỷ lệ mù chữ của các bà mẹ ở Yên Bái khá cao 32,0%, hoặc cũng có thể vì phần lớn các bà mẹ Yên Bái làm ruộng/rẫy (88,2%) cho nên họ không có thời gian quan tâm đến các vấn đề khác. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Tú tại Bình Định năm 2009 chỉ ra sự khác nhau về sự lựa chọn nơi sinh giữa những có trình độ văn hóa không giống nhau. Các bà mẹ học vấn thấp có xu hướng đẻ tại nhà cao hơn các bà mẹ có học vấn cao. 57
  58. 58. Bà mẹ có học vấn dưới trung học cơ sở đẻ tại nhà cao gấp 16 lần các bà mẹ học vấn trên trung học cơ sở [11]. Sự khác biệt này cũng được làm sáng tỏ trong một số nghiên cứu khác như nghiên cứu tại Thanh Hóa và Thái Nguyên, các bà mẹ học vấn dưới trung học cơ sở đẻ tại nhà cao gấp 2,5 lần các bà mẹ học vấn trên trung học cơ sở [40], [41]. 4.2.2. Thực hành chọn người đỡ đẻ của các bà mẹ Trong tổng số 516 bà mẹ được nghiên cứu thì có 327 bà mẹ sinh con có sự giúp đỡ của cán bộ y tế - những người được đào tạo, chiếm tỷ lệ 63,4%. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn một số nước trên thế giới như ngoại ô Sahara Châu Phi 40% [33], Nam Phi 55,9% [38], Ấn Độ 63% [43], … Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ các bà mẹ được các bộ y tế đỡ đẻ (63,4%) thấp hơn so với một số khu vực khác trong nước như Huế 80,2% [42], Thanh Hóa 71,5% [40], Vĩnh Long 68,6% [46], Thái Nguyên 97,8% [41], Bình Định 92,2% [11], … Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, với những phụ nữ không sinh con tại cơ sở y tế thì người đỡ đẻ chủ yếu (76,4%) là do mẹ chồng, mẹ đẻ, chồng, chị dâu, em gái, hàng xóm … chỉ có 5,0% là do cán bộ y tế đỡ đẻ. Quan niệm chung của cộng đồng đều cho rằng những người phụ nữ dân tộc thường dễ đẻ, vì vậy chồng hay người thân của các sản phụ thích nhờ sự giúp đỡ của những người đã từng có kinh nghiệm đở đẻ hơn là việc chú trọng đến việc người đó có được đào tạo, hoặc có chuyên môn không. Việc sinh tại nhà có thể là không sao nếu là một cuộc đẻ thường. Tuy nhiên, đa số các bà mụ vườn hay những người đỡ đẻ cho sản phụ (mẹ chồng hay mẹ đẻ hoặc chồng hoặc chị gái, …) chưa hề được đào tạo bài bản về quá trình chuyển dạ của thai phụ. Vì vậy, trong quá trình sinh nở, nếu xảy ra trường hợp không mong muốn hoặc xuất hiện các tai biến sản khoa, họ không biết cách xử trí an 58

×